Xây dựng và phát triển TP. Đà Nẵng trong bối cảnh đô thị hóa (Tham luận)

7

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ MỘT SỐ KINH NGHIỆM [1]

(Hội thảo quốc tế “Giao lưu văn hóa Việt Nam – Trung Quốc” tổ chức tại Trung tâm Furama, thành phố Đà Nẵng, 3/8/2010).

  1. 1. MỞ ĐẦU

1.1. Ngày 06/11/1996, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, khóa IX, kỳ họp thứ 10, đã phê chuẩn việc tách Đà Nẵng khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, thành lập thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Gần một năm sau, ngày 23/10/1997, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2010, xác định Đà Nẵng là một trong những trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và của cả nước. Hai sự kiện này là mở ra một chương mới trong tiến trình phát triển của thành phố Đà Nẵng, đồng thời tiếp thêm sức mạnh để Đà Nẵng vững bước tiến vào tương lai với một vai trò và vị thế mới.

Ngày 1/1/1997, thành phố Đà Nẵng (cũ) cùng với huyện Hòa Vang, chính thức tách khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ), hợp nhất trở thành một đơn vị hành chính mới: thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Hiện nay thành phố có 8 đơn vị hành chính, gồm các quận: Hải Châu, Liên Chiểu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ (2); huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa. Tổng diện tích tự nhiên của Đà Nẵng là 1.255,53 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 213,05 km2; hai huyện Hòa Vang và Hoàng Sa chiếm diện tích 1.042,48km2. Dân số Đà Nẵng vào năm 2009 là 887.069 người.(3)

1.2. Để định hướng và tạo đà phát triển cho Đà Nẵng, ngày 16/10/2003, Bộ Chính trị có Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết vạch ra phương hướng và nhiệm vụ phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 là: “Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế –  xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ; là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính – viễn thông và tài chính – ngân hàng; một trong những trung tâm văn hóa – thể thao, giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ của miền Trung; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của khu vực miền Trung và cả nước”.(1) Đà Nẵng được xác định là “thành phố động lực” của miền Trung Việt Nam; là “đầu tàu kinh tế” của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và Tây Nguyên; cùng cả nước tiến vào thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.  

 Kể từ khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Đà Nẵng đã không ngừng phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và liên tiếp đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Về kinh tế, tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Đà Nẵng năm 1997 theo giá so sánh là 2.589,84 tỷ đồng, đến năm 2009 đã tăng lên 9.236 tỷ đồng, tăng 3,56 lần, bình quân đạt 11,17%/ năm, so với bình quân cả nước là 7,27%/năm. Việc tăng trưởng với tốc độ cao, liên tục và trong nhiều năm đã tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư, đồng thời đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người của Đà Nẵng tăng từ 4,69 triệu/người năm 1997 lên 28,14 triệu/người năm 2009, tăng hơn 6 lần về quy mô và tăng bình quân 16,1%/ năm giai đoạn 1997 – 2009.(4) Năm 2010 dự kiến đạt 2.000 USD/người, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 6 lần, kim ngạch xuất khẩu vượt ngưỡng 1 tỉ USD, thu ngân sách đạt gần 8.000 tỉ đồng, tăng 6 lần, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 2,6 tỉ USD. Trong nhiều năm liền Đà Nẵng luôn có mặt trong tốp đầu bảng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Việt Nam, riêng hai năm 2008 và 2009 Đà Nẵng giữ vị trí dẫn đầu cả nước. Về xã hội, trong giai đoạn 1997 – 2009, Đà Nẵng đã giải quyết việc làm cho 305.459 người. Riêng số lao động được giải quyết việc làm trong 5 năm 2005 – 2008 tăng cao, bình quân trên 3 vạn lao động/năm.(5)  

Đà Nẵng còn được ghi nhận là một trong những thành phố có tốc độ đô thị hóa nhanh và mạnh; là đô thị có môi trường sống trong lành, sạch đẹp. Điều này càng thu hút và tạo nên những cơ hội phát triển cho Đà Nẵng, hướng đến “thành phố công nghệ cao”, “thành phố môi trường”. Mục tiêu của Đà Nẵng trong năm 2010 là hướng đến một đô thị xanh, cải thiện mạnh mẽ cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả loại hình dịch vụ, quy hoạch, xúc tiến đầu tư và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn chủ lực, dịch vụ, các khu công nghiệp, đô thị mới… Đà Nẵng còn là điểm sáng về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đến làm việc và cống hiến năng lực và trí tuệ cho thành phố.

1.3. Đà Nẵng không chỉ tập trung vào mục tiêu phát triển kinh tế, đẩy mạnh quá trình đô thị hóa và chỉnh trang đô thị, cải thiện đời sống dân sinh – xã hội – một trong những thành tựu nổi bật của Đà Nẵng trong thời gian qua là sự gắn kết giữa phát triển kinh tế với xây dựng và phát triển văn hóa và con người Đà Nẵng. Kinh tế thành phố tăng trưởng liên tục và ổn định; không gian đô thị được mở rộng từng ngày; cơ sở hạ tầng phát triển mạnh mẽ; các chiều kích xã hội – nhân văn trong đời sống cũng biến chuyển theo hướng tốt đẹp hơn, toàn diện hơn và sâu sắc hơn. Điều này được thể hiện qua những thành tựu đạt được trong xây dựng và phát triển văn hóa trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua.

Trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ và quá trình hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, việc xây dựng và phát triển văn hóa của thành phố Đà Nẵng có nhiều thuận lợi, song cũng đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Phát huy những thành tựu đã có, khắc phục những tồn tại, yếu kém và đúc rút kinh nghiệm để tiếp tục sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa của Đà Nẵng trong những năm tới chính là những vấn đề mà tham luận này quan tâm đề cập.

  1. THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA ĐÀ NẴNG TRƯỚC KHI TRỞ THÀNH THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

2.1. Về cơ sở vật chất dành cho văn hóa

Trước năm 1975, dù là một thành phố lớn nhất miền Trung và là đô thị lớn thứ hai (sau Sài Gòn) ở miền Nam Việt Nam [2], nhưng Đà Nẵng chưa bao giờ được chính quyền các chế độ cũ quan tâm phát triển như một đô thị đúng nghĩa, để có thể trở thành một trung tâm chính trị – văn hóa – giáo dục của miền Trung.

Thời Pháp thuộc, trong khoảng thời gian từ năm 1888 đến năm 1950, Đà Nẵng chỉ là một “nhượng địa” của người Pháp. Vì thế, những gì mà người Pháp “tạo dựng” cho Đà Nẵng trong thời kỳ họ nắm quyền ở đây chỉ nhằm mục đích khai thác những lợi thế của Đà Nẵng để phục vụ cho lợi ích của họ, hơn là tạo lập cho Đà Nẵng một diện mạo đô thị hoàn chỉnh, có một tầng lớp thị dân và một nền “văn hóa thị dân” đúng nghĩa. Đô thị Đà Nẵng lúc bấy giờ dường như “gói gọn” trong một vài con phố nằm ở bờ tây sông Hàn. Cơ sở hạ tầng dành cho văn hóa – giáo dục ở Đà Nẵng dưới thời Pháp thuộc hầu như không đáng kể.

Từ sau năm 1954, mặc dù chính quyền Sài Gòn coi Đà Nẵng là một trong hai đô thị trọng yếu của miền Nam Việt Nam và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật của chế độ miền Nam, nhưng khi quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng (tháng 3/1965), thì Đà Nẵng đã trở thành một căn cứ quân sự hỗn hợp và là cơ sở hậu cần phục vụ cho cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Vì lẽ đó, ngoài những công trình phục vụ cho mục đích quân sự, bộ máy hành chính và những cơ sở vui chơi giải trí của lính Mỹ, chính quyền Sài Gòn dường như không xây dựng một công trình, một thiết chế nào phục vụ cho nhu cầu văn hóa – giáo dục của người dân Đà Nẵng. Vì thế, trước năm 1975, Đà Nẵng không có đài truyền hình và đài phát thanh; không có cơ quan báo chí; không có rạp hát; không trường đại học và thư viện công cộng…Cả thành phố chỉ có một bảo tàng do người Pháp xây dựng từ năm 1925 (Viện cổ Chàm), một vài rạp chiếu bóng,… 

Sau ngày đất nước thống nhất, đời sống kinh tế – xã hội ở Đà Nẵng còn nhiều khó khăn; những nhu cầu thiết yếu của người dân chưa được đáp ứng, các nhu cầu về văn hóa tinh thần của người dân cũng chưa được thỏa mãn như mong đợi. Tuy nhiên, nhờ những nổ lực của chính quyền tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và của toàn xã hội, đời sống kinh tế – xã hội dần dần chuyển biến tốt hơn. Theo đó, việc xây dựng và phát triển văn hóa, giáo dục ở Đà Nẵng trong thời kỳ này đã có những thay đổi rất đáng kể. Cho đến trước khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã có 1 đài Truyền hình khu vực, 1 đài PT – TH của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, 2 tờ báo, 2 tờ tạp chí, 2 bảo tàng, 1 thư viện khoa học tổng hợp cấp tỉnh, 1 cơ sở đào tạo đại học với 4 trường thành viên, …

Tuy vậy, cơ sở vật chất dành cho văn hóa của thành phố Đà Nẵng đến thời điểm 1997 vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người dân; các thiết chế văn hóa chưa được hoàn thiện và chưa đáp ứng mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ mới, chưa xứng tầm với vai trò và vị thế của một thành phố được xác định là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

2.2. Về nếp sống văn hóa – văn minh đô thị

Đà Nẵng là một đô thị không được hình thành theo quy luật thông thường như những đô thị khác, nghĩa là không từ con đường buôn bán, trao đổi hàng hóa để trở thành một trung tâm thương mại của vùng/miền/quốc gia, để từ đó phát triển thành một đô thị lớn. Vì thế, cư dân Đà Nẵng không phải là những “thị dân” đúng nghĩa. Cư dân Đà Nẵng gồm những người dân bản địa vốn làm nghề ngư, nghề nông ngay trên mảnh đất do tổ tiên họ, vốn là những lưu dân từ Bắc Trung Bộ vào khai phá từ hàng trăm năm trước. Họ còn là những người nông dân ở các làng quê vùng ven thành phố và từ các địa phương lân cận như Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, … tản cư vào trong những năm 1968 – 1975 khi chiến tranh trở nên ác liệt. Sau cùng, họ là những cư dân thuần nông sống ở vùng ven Đà Nẵng trước đây, trong đó có cả những cộng đồng người thiểu số thuộc nhóm Katu Ếp (Katu vùng thấp) của tộc người Katu sống ở vùng đồi núi phía tây huyện Hòa Vang, đã trở thành “thị dân” sau khi huyện Hòa Vang sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng (cũ) để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Với một thành phần “thị dân” đa dạng như vậy, việc xây dựng nếp sống văn hóa – văn minh đô thị ở Đà Nẵng gặp không ít khó khăn. Sự khác biệt về lối sống, về văn hóa ứng xử, về văn hóa gia đình, thậm chí cả về thị hiếu thưởng thức và thói quen tiêu dùng văn hóa, … giữa các bộ phận cư dân có nguồn gốc khác nhau là rất lớn. Đây là một trở lực đáng kể trong việc xây dựng và phát triển văn hóa ở Đà Nẵng.

  1. TƯ TƯỞNG CHỦ ĐẠO TRONG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 1997-2010

Nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp phát triển thành phố Đà Nẵng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đã xác định tư tưởng chủ đạo trong chiến lược xây dựng và phát triển văn hóa của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 1997 – 2010 là: theo định hướng “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; kế thừa và phát huy văn hóa truyền thống, kết hợp với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa  nhân loại; gắn liền với quá trình đô thị hóa và chỉnh trang đô thị.

3.1. Xây dựng và phát triển văn hóa Đà Nẵng theo định hướng “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Ngày 16/7/1998, tại Hội nghị lần thứ 5 (khóa VIII) Ban Chấp hành Trung ương (BCH TW) Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW (khóa 8) Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây chính là kim chỉ nam, là tư tưởng chỉ đạo cho chiến lược xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới. Đây cũng chính là nền tảng tư tưởng để lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đề ra các chủ trương, chính sách chương trình hành động cụ thể nhằm xây dựng và phát triển văn hóa của thành phố Đà Nẵng.

Quán triệt sâu sắc 5 quan điểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ cụ thể, 4 nhóm giải pháp lớn được nêu trong Nghị quyết (7)  Trung ương 5 (khóa 8), Thành ủy Đà Nẵng đã đề ra Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Đà Nẵng đã triển khai Đề án xây dựng và phát triển văn hóa thành phố giai đoạn 2001 – 2005, [3] theo đó xác định rõ quan điểm chỉ đạo và những nhiệm vụ chủ yếu đến năm 2010, đồng thời đề ra những nhiệm vụ cấp bách và các biện pháp tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII).

Sau bước quán triệt ở thành phố, các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, các lực lượng vũ trang trên toàn địa bàn đã tổ chức phổ biến, quán triệt ở cấp mình. Tùy theo chức năng, nhiệm vụ được giao, mỗi địa phương, đơn vị đã xây dựng kế hoạch, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương V và Chương trình hành động của Thành ủy; đặc biệt chú trọng nội dung sinh hoạt tự phê bình và phê bình về tư tưởng, đạo đức lối sống trong toàn Đảng bộ, các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể chính trị – xã hội, trước hết là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; qua đó, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò của văn hóa; tạo nên sự quan tâm thường xuyên của xã hội đối với văn hóa; phát động phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế – xã hội, tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa.

Bước sang giai đoạn 2005 – 2010, thành phố Đà Nẵng tiếp tục đề ra những quyết sách phù hợp cho chiến lược phát triển văn hóa và xây dựng nếp sống văn minh đô thị trong thời kỳ mới.

Ngày 18/8/2004, UBND thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định số 138/2004/QĐ-UB về việc thực hiện chương trình “Phát triển văn hóa, văn học – nghệ thuật và xây dựng nếp sống văn minh đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và vị thế mới của Đà Nẵng, giai đoạn 2005 – 2010” [4]

Có thể nhận thấy rằng trong cả giai đoạn 2001 – 2005 và 2005 – 2010, Đà Nẵng luôn coi nội dung “xây dựng con người Đà Nẵng và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống văn minh đô thị” là ưu tiên hàng đầu trong xây dựng và phát triển văn hóa của thành phố Đà Nẵng. Từng bước xây dựng và hoàn thiện con người Đà Nẵng về tư tưởng, trí tuệ và nhân cách, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống văn hóa văn minh đô thị. Đây là nhiệm vụ hàng đầu trong xây dựng và phát triển văn hóa, chống lại những thách thức của cơ chế thị trường. Với mục tiêu đó, trong phát triển và quản lý văn hóa, Thành ủy Đà Nẵng thường xuyên coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống văn hóa gắn với việc giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong các lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân, thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, mất cảnh giác trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Việc xây dựng con người Đà Nẵng còn thể hiện ở quyết tâm chống các hành vi tiêu cực trong các cơ quan Đảng. chính quyền và các đơn vị thành phố. Chỉ thị 11 của Thường vụ Thành ủy ban hành ngày 20-10-2003 về “tăng cuờng giáo dục phẩm chất đạo đức, lối sống, kiên quyết chống các hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, thiếu trách nhiệm, cửa quyền, nhũng nhiễu, hách dịch đối với nhân dân của cán bộ, công chức các cấp” đã được triển khai, quán triệt trong tất cả cán bộ, công chức của thành phố bước đầu có nhiều chuyển biến tốt.

Về xây dựng con người Đà Nẵng, Chương trình hành động của Thành ủy Đà Nẵng đã xác định: “Xây dựng và hoàn thiện con người Đà Nẵng về tư tưởng, trí tuệ và nhân cách là nhiệm vụ hàng đầu trong xây dựng và phát triển văn hóa”.(10) Đó phải là “con người Việt Nam có những đức tính mà Nghị quyết Trung ương 5 đã nêu ra, trong đó coi trọng xây dựng bản lĩnh vững vàng, năng động sáng tạo, có ý thức cộng đồng và tinh thần hợp tác, kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa Đất Quảng, văn hóa Việt Nam, kết hợp với tiếp thu có chọn lọc văn hóa nhân loại; gắn bó sắt son với sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển Đà Nẵng. Chú trọng phát huy truyền thống “trung dũng, kiên cường” trong đấu tranh cách mạng và truyền thống cần cù lao động hiếu học, ý chí vươn lên dám nghĩ, dám làm trong công cuộc đổi mới, vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.(11) Những tiêu chí về xây dựng “con người Đà Nẵng” và “văn hóa Đà Nẵng” mà lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đã xác định vừa thể hiện sự quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết 05-NQ/TW của Hội nghị BCH TW lần thứ 5 (khóa 8); vừa kế thừa truyền thống “trung dũng, kiên cường” trong đấu tranh chống ngoại xâm; tinh thần “dám nghĩ, dám làm” trong công cuộc xây dựng quê hương; tư duy đổi mới và cầu thị trong hội nhập quốc tế của con người Đà Nẵng. Đây chính là tiền đề quan trọng, là tư tưởng chủ đạo trong chiến lược xây dựng và phát triển văn hóa của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 1997 – 2010.

 Ngoài vấn đề xây dựng con người, Đà Nẵng còn đặc biệt chú trọng “xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống văn minh đô thị”. Thành phố đã triển khai thực hiện chương trình “Thành phố 5 không” (không có hộ đói, không có người mù chữ, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma túy trong cộng đồng, không có giết người để cướp của).(12) Chương trình này, cùng với chương trình “Thành phố 3 có” (có nhà ở, có việc làm, có nếp sống văn hóa – văn minh đô thị)(13) được đánh giá là những chương trình đột phá, là điểm son trong xây dựng và phát triển văn hóa của thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua.

3.2. Kế thừa và phát huy văn hóa truyền thống, kết hợp với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế của nhân loại, có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của mọi quốc gia, dân tộc. Trong lĩnh vực văn hóa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là những tác nhân quan trọng để phát triển văn hóa nhưng cũng mang lại những tác động ngoài ý muốn trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế đã tạo ra sự xung đột giữa văn hóa ngoại lai với văn hóa dân tộc, giữa văn hóa đương đại với văn hóa truyền thống; tạo xung đột trong đánh giá chuẩn mực đạo đức, văn hóa giữa các dân tộc, các nền văn hóa khác biệt. Thực tế ở Việt Nam trong những năm qua cũng cho thấy sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai thông qua quá trình hội nhập quốc tế đã mang đến những hệ quả ngoài mong muốn. “Văn hóa hiện đại xâm nhập vào đã làm cho các quan niệm về lối sống, phong cách và hành vi đạo đức của bộ phận không nhỏ trong xã hội có sự xuống cấp, không còn phù hợp thuần phong mỹ tục của dân tộc. Những quan niệm cổ truyền có xu hướng bị lãng quên, những chuẩn mực và hành vi đạo đức xã hội đã có sự thay đổi. Đây là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, làm nhức nhối và là sự cản trở việc chúng ta thực hiện mục tiêu phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.(14)

Từ thực tế trên, Đảng bộ và chính quyền thành phố Đà Nẵng đã định hướng phát triển văn hóa Đà Nẵng theo hướng đề cao những giá trị văn hóa đặc sắc, có truyền thống lâu đời, được chắt lọc từ tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam và văn hóa xứ Quảng, xây dựng một nền văn hóa Đà Nẵng giàu bản sắc nhưng đủ bản lĩnh để đối phó và kiểm soát với những tác động tiêu cực của văn hóa ngoại lai. Bên cạnh đó, phải sẵn sàng “mở cửa” tiếp thu những tinh hoa văn hóa đến từ bên ngoài, nhất là những tinh hoa trong tư tưởng, học thuật; giao lưu, học hỏi trao đổi kinh nghiệm về cách thức quản lý và khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa, cả truyền thống lẫn đương đại; về vận dụng khoa học kỹ thuật hiện đại để phục vụ cho các hoạt động quản lý văn hóa, sản xuất và truyền bá sản phẩm văn hóa, định hướng tiêu dùng văn hóa cho cộng đồng, xã hội.

Tư tưởng này là sự tiếp nối truyền thống bảo lưu những giá trị văn hóa quý báu của dân tộc nhưng sẵn sàng tiếp thu những tinh hoa văn hóa của các nền văn hóa khác đã từng diễn ra trên mảnh đất Đà Nẵng. Khi những lưu dân Đại Việt đặt chân đến mảnh đất này từ hơn 500 năm trước, họ đã mang theo bên mình những hành trang của văn hóa Đại Việt. Hành trang đó đã giúp họ tồn tại trên quê hương mới với tư cách là con dân của nước Việt. Nhưng những tiên dân của Đà Nẵng thời đó vẫn tôn trọng nền văn hóa của người Chăm bản địa, thậm chí, họ còn tiếp nhận một số khía cạnh của văn hóa Champa và Việt hóa dần dần để tạo nên những giá trị văn hóa đặc sắc như một nét riêng của văn hóa Đà Nẵng. Tiếp đến, khi người Tây dương đến giao lưu, buôn bán ở Cửa Hàn vào thời kỳ nhà Nguyễn, người Đà Nẵng cũng sẵn sàng “mở cửa” để giao thương, mua bán, qua đó, họ đã tiếp thu những tinh hoa của văn minh phương Tây để nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của mình.

Tinh thần “hội nhập” của người Đà Nẵng xưa đã được người Đà Nẵng nay kế thừa nhằm xây dựng một nền văn hóa Đà Nẵng hàm chứa các nét đẹp và giá trị của văn hóa truyền thống. Đồng thời, còn nhằm mục đích giới thiệu các giá trị đặc sắc của văn hóa truyền thống đến với thế giới bên ngoài; sẵn sàng tiếp thu và chọn lọc những tinh hoa của văn hóa bên ngoài để phục vụ cho xây dựng và phát triển văn hóa Đà Nẵng, đáp ứng nhu cầu đa dạng trong thưởng thức và tiêu dùng văn hóa của người dân Đà Nẵng, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

3.3. Xây dựng và phát triển văn hóa Đà Nẵng gắn liền với quá trình đô thị hóa và chỉnh trang đô thị

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 16/10/2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đặt mục tiêu cho thành phố Đà Nẵng là “phải phấn đấu để trở thành một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020”.(15)

 Để trở thành một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đà Nẵng đẩy mạnh tốc độ đô thị hóa, gắn với chỉnh trang đô thị. Chương trình hành động do Thành ủy Đà Nẵng đề ra ngày 19/11/2003 nhằm thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị gồm có 12 chương trình trọng tâm, trong đó, Chương trình 1: Đẩy mạnh công tác quy hoạch, tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng một cách đồng bộ, xây dựng thành phố theo hướng văn minh, hiện đại, là chương trình then chốt trong quá trình đô thị hóa và chỉnh trang đô thị Đà Nẵng.

Để triển khai chương trình trên, thành phố Đà Nẵng đã huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia vào quá trình đô thị hóa và chỉnh trang đô thị với chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Chủ trương này đã tạo sự đồng thuận trong nhân dân và huy động sự tham gia của cộng đồng vào công cuộc chỉnh trang đô thị Đà Nẵng. Từ năm 1997 đến tháng 7/2009, Đà Nẵng đã thực hiện thu hồi đất với tổng diện tích 11.488 ha; tổng số tiền chi cho đền bù giải tỏa các khu dân cư khoảng 5.000 tỷ đồng; tổng số hộ thuộc diện giải tỏa, đền bù khoảng 82.740 hộ. Nhờ đó, Đà Nẵng đã có đủ quỹ đất để tiến hành công tác chỉnh trang đô thị ở nội thành và đẩy mạnh quá trình đô thị hóa ở vùng ven.

Kết quả thực hiện chương trình này trong những năm qua tạo cho Đà Nẵng một diện mạo đô thị khác hẳn so với thời điểm tách Đà Nẵng ra khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng để thành lập đơn vị hành chính trực thuộc trung ương. Một “đô thị trẻ” được hình thành. Nhiều công trình kinh tế – xã hội – văn hóa ra đời gắn liền với quá trình đô thị hóa và công tác chỉnh trang đô thị như: cầu Sông Hàn, đường Nguyễn Văn Linh, đường Nguyễn Tất Thành, đường Sơn Trà – Điện Ngọc, cầu Thuận Phước,… Bên cạnh đó, nhiều khu đô thị, hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu điện, đường, trường, trạm, bệnh viện, công trình văn hóa, thể dục thể thao,…từng bước được nâng cấp, xây dựng mới hiện đại; các khu công nghiệp, khu du lịch, khu resort, trung tâm thương mại cao cấp, các nhà hàng, khách sạn được triển khai trên khắp địa bàn thành phố… Vì thế, Đà Nẵng được đánh giá là một trong những địa phương đi đầu trong công tác chỉnh trang đô thị với cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh ở Việt Nam.(16)  

Quá trình đô thị hóa và chỉnh trang đô thị của Đà Nẵng đã thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại; đẩy mạnh việc tiếp thu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo điều kiện cho người dân Đà Nẵng được nâng cao dân trí, được tiếp thu nhiều kiến thức mới, tiếp cận với công nghệ thông tin, nhất là internet, được mở rộng tầm nhìn. Do đó, đời sống văn hóa và tinh thần của người dân được phát triển đa dạng, phong phú, theo hướng ngày càng hiện đại. 

  1. NHỮNG THÀNH TỰU TRONG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 1997 – 2010

Kể từ khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Đảng bộ và chính quyền thành phố Đà Nẵng đã xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chương trình, đề án, kế hoạch liên quan đến chiến lược phát triển và quản lý văn hóa trên địa bàn thành phố(17) và đã đạt được một số thành tựu cơ bản như sau:

4.1. Về công tác xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống, đời sống văn hóa

Công tác xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa đã được chú trọng; có những chuyển biến tích cực, nhất là trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đợt học tập tư tưởng Hồ Chí Minh được Thành ủy triển khai sâu rộng, nghiêm túc trong các cấp, các ngành, tạo thành một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn, đạt hiệu quả cao. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương VI (lần 2, khóa VIII) đã trở thành nhiệm vụ thường xuyên của mỗi cán bộ đảng viên. Hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể đã triển khai sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân, tạo nên đợt sinh hoạt chính trị đều khắp trong toàn Đảng bộ, tạo sự đồng thuận trong toàn thể nhân dân thành phố.

Môi trường văn hóa trên địa bàn nhìn chung lành mạnh; đời sống văn hóa cơ sở đã có bước phát triển; phong trào văn nghệ quần chúng chuyển biến mạnh mẽ tại các địa phương, đơn vị, thu hút đông đảo cán bộ, nhân dân tham gia. Đời sống văn hóa đô thị, nông thôn thành phố ngày càng được nâng lên về nhiều mặt, công tác kiểm tra được phối hợp tổ chức thường xuyên, rộng khắp; đảm bảo quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa trong xã hội theo qui định hiện hành.

Nội dung xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống văn hóa văn minh đô thị đã được sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ của các ban ngành, đoàn thể, mặt trận trên địa bàn thành phố. Các địa phương, đơn vị đã xây dựng các tiêu chí cụ thể đối với các danh hiệu thi đua như: “gia đình văn hóa”, “thôn văn hóa”, “khối phố văn hóa”’ xã-phường văn hóa”, cơ quan đơn vị văn hóa, một số địa phương xây dựng tộc, họ văn hóa, …; xây dựng các quy tắc ứng xử qua việc hướng dẫn thực hiện quy ước ở thôn, khối phố văn hóa. Đã xây dựng và từng bước thực hiện có hiệu quả đề án tăng cường nếp sống văn minh đô thị trên địa bàn thành phố. Công tác tuyên truyền cổ động trực quan với nhiều hình thức phong phú, sinh động về xây dựng nếp sống văn hóa được tiến hành thường xuyên. Tài liệu “Hỏi đáp về thực hiện nếp sống văn minh đô thị” và hàng ngàn ấn phẩm về xây dựng và phát triển văn hóa được biên soạn và phát hành đến từng cơ quan, đơn vị, tổ dân phố và những nơi vùng sâu, vùng xa, giúp người dân hiểu rõ vai trò, vị trí của văn hóa là động lực phát triển trong thời kỳ mới. Một việc làm có hiệu quả trong xây dựng môi trường văn hóa, đó là các ban ngành, đoàn thể của thành phố đã chủ động xây dựng chương trình phối hợp nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ về xây dựng văn hóa. Ngành Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp với ngành Giáo dục – Đào tạo thành phố triển khai cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trong trường học, đưa chương trình điện ảnh – sân khâu và loại hình nghệ thuật tuồng cổ vào học đường; phối hợp với Bưu điện thành phố xây dựng phòng đọc sách, báo tại các điểm Bưu điện Văn hóa xã; phối hợp với BCH Quân sự và BCH Bộ đội biên phòng thành phố xây dựng môi trường văn hóa, đơn vị văn hóa, “điểm sáng văn hóa” trên các tuyến đường ven biển; phối hợp với Sở Lao động Thương binh Xã hội và Ủy ban MTTQVN thành phố xây dựng tiêu chí phân loại, kiểm tra việc xây dựng các danh hiệu văn hóa ở khu dân cư; phối hợp với Liên đoàn Lao động và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về xây dựng đời sống văn hóa trong CNVC – NLĐ, về xây dựng cơ quan, đơn vị văn hóa, gia đình văn hóa; phối hợp với Hội Nông dân thành phố xây dựng danh hiệu gia đình nông dân văn hóa, theo đó các cuộc thi gia đình văn hóa được tổ chức tại các xã, phường, quận, huyện và thành phố. Những chương trình, hoạt động phối hợp đó đã góp phần đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đến với các tầng lớp nhân dân, phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Hằng năm việc tuyên dương các gia đình văn hóa, cơ quan, đơn vị văn hóa tiêu biểu, nhân rộng điển hình được tổ chức chu đáo tại cơ sở và thành phố. Các cuộc thi kể chuyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được tổ chức rộng khắp từ cơ sở, ban ngành, đơn vị doanh nghiệp có tác dụng phát huy tích cực, đề cao tinh thần nhân văn, văn hóa trong xây dựng đạo đức lối sống, đời sống văn hóa trong cộng đồng dân cư; đồng thời phê phán những hiện tượng, những hành vi phi văn hóa, phản văn hóa.

Nội dung đăng ký xây dựng cơ quan, đơn vị văn hóa đều gắn với thực hiện cải cách hành chính, đổi mới lề lối, tác phong làm việc, hình thành thái độ giao tiếp văn hóa, lịch sự; đồng thời chú ý xây dựng cảnh quan, môi trường sạch đẹp, an toàn, phát huy quy chế dân chủ ở cơ sở. Lực lượng công an thành phố xây dựng mô hình “Cơ quan công an văn hóa”’, “Người công an văn hóa”. Ở các khu dân cư, có thể nói tới mô hình “Mười nhà ba quản” [5] trong xây dựng nếp sống văn minh đô thị của phường Nam Dương, quận Hải Châu; mô hình “Cụm liên kết bảo vệ trật tự” của quận Sơn Trà, mô hình xây dựng quy ước thôn – khối phố văn hóa gắn liền với bảo vệ môi trường của khối phố Nam Ô, phường Hòa Hiệp, quận Liên Chiểu; mô hình xây dựng quy ước văn hóa gắn với xây dựng họ, tộc văn hóa tại huyện Hòa Vang. Các mô hình phát huy được trách nhiệm của từng cá nhân, tập thể cộng đồng dân cư trong sinh hoạt cuộc sống thường ngày. Với cách làm và quản lý văn hóa trên địa bàn Đà Nẵng, đến cuối năm 2009, Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở” đã vận động lồng ghép với vận động xóa nhà tạm cho hộ nghèo có đất ở ổn định và giúp nhau phát triển kinh tế gia đình đạt kết quả đáng kể. Phát huy tinh thần tương thân tương ái do mặt trận phát động, năm 2009 đóng góp trên 20.060 triệu đồng để sửa chữa 334 nhà xuống cấp với số tiền 1.796 triệu đồng, xây dựng 434 nhà với số tiền 8.314 triệu đồng; đồng thời hỗ trợ vốn, phương tiện sản xuất, giống cây trồng, con vật nuôi, phương thức làm ăn, … giúp các hộ còn khó khăn vươn lên ổn định cuộc sống. Ngoài ra, Quỹ đến ơn, đáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện đã thu được 4.802,54 triệu đồng. Từ nguồn quỹ này thành phố đã xây dựng mới 38 nhà tình nghĩa với số tiền 809 triệu đồng, sửa chữa 522 nhà cho đối tượng chính sách với số tiền 2.068 triệu đồng, xây dựng 4 nhà tình nghĩa và tặng 326 số tiết kiệm với số tiền 278,8 triệu đồng. Nhờ đó trong năm 2009, có 9.319 hộ thoát nghèo, đạt 122,6% kế hoạch; 366 khu dân cư không còn hộ nghèo, chiếm tỉ lệ 16,6%; 1.205 khu dân cư không còn hộ nghèo thuộc diện chính sách; 1.715 khu dân cư không còn nhà dột nát (chiếm tỉ lệ 77,8%).

Cùng với hoạt động trên, việc tổ chức thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tiếp tục được phát huy. Năm 2009 có 1.634 khu dân cư xây dựng quy ước, hương ước; tham gia hòa giải thành công 1.725 vụ/1.634 vụ mâu thuẫn nội bộ, cảm hóa giáo dục 1.291/2.385 đối tượng tiến bộ hòa nhập cộng đồng; giúp cai nghiện 133/201 người nghiện ma túy tại cộng đồng.

Năm 2009, có 1.943 khu dân cư không có người nghiện ma túy mới; 1.164 khu dân cư không vi phạm trật tự an toàn giao thông; 1.829 khu dân cư không có trẻ em bỏ học; 1.554 khu dân cư không có người sinh con thứ 3 trở lên; 2.031 khu dân cư có phong trào vệ sinh môi trường tốt và 1.925 khu dân cư giữ gìn đường làng, ngõ phố sạch đẹp. Từ kết quả trên, năm 2009, có 156.502 hộ gia đình công nhân đạt chuẩn văn hóa (đạt 88,1%), tăng 7.429 hộ so với 2008; trong đó có 75.393 hộ đạt tiêu chuẩn văn hóa 5 năm liền (đạt 48,9%); 1.537 khu dân cư tiên tiến (đạt 69,7%), tăng 29 khu dân cư so với năm 2008; 1.195 khu dân cư văn hóa (đạt 54,2%); 425 khu dân cư có nhà văn hóa (đạt 19,3%) [6].

4.2. Về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống

Đảng ta khẳng định: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa”.(18) Quán triệt tinh thần này, Đảng bộ và chính quyền thành phố Đà Nẵng luôn coi việc phát huy các giá trị văn hóa truyền thống là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển và quản lý văn hóa trên địa bàn thành phố. Nhờ vậy, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống đã có những biến chuyển tích cực, thu được nhiều kết quả tốt.

Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được chú trọng đúng mức. Nhận thức về giá trị văn hóa và truyền thống văn hóa ngày càng được nâng cao. Nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể đã được quan tâm nghiên cứu để bảo tồn và phát huy giá trị.

Cùng với sự phát triển về số lượng các lễ hội tại địa phương, các giá trị văn hóa trong các hoạt động lễ hội đã được chú trọng nhằm phát huy các giá trị văn hóa tâm linh chân chính trong cộng đồng dân cư địa phương và hạn chế những tiêu cực trong hoạt động lễ hội. Trên toàn địa bàn thành phố hiện có 20 lễ hội được tổ chức hàng năm, trong đó có 18 lễ hội dân gian, 1 lễ hội tôn giáo và 1 lễ hội Liên hoan văn hóa du lịch. Mùa lễ hội, tất cả đều triển khai theo quy chế hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tại các lễ hội, hoạt động mê tín dị đoan, đốt giấy vàng mã, tệ nạn xã hội, người lang thang xin ăn và bán vé số được giảm thiểu đáng kể. Trong số các lễ hội được tổ chức ở Đà Nẵng, lễ hội Quán Thế Âm tại Ngũ Hành Sơn là lễ hội lớn nhất và được quan tâm nhiều nhất. Sau nhiều năm gián đoạn vì nhiều lý do khách quan, từ năm 1991 đến nay, lễ hội Quán Thế Âm đã được tổ chức thường niên vào ngày 19 tháng 2 âm lịch với tầm vóc, quy mô ngày càng lớn và nội dung ngày càng phong phú. Từ năm 2000, lễ hội Quán Thế Âm tại Ngũ Hành Sơn đã được Bộ Văn hóa và Thông tin (trước đây) công nhận là 1 trong 15 lễ hội cấp quốc gia. Đây là lễ hội có ý nghĩa lớn và có tầm quan trọng trong phát triển văn hóa và du lịch của thành phố Đà Nẵng. Từ năm 1999, việc nghiên cứu ghi chép, quay phim các lễ hội văn hóa truyền thống đã được tiến hành. Các đề tài nghiên cứu hoa học, các cuộc hội thảo, tọa đàm,…về văn hóa đã mang lại hiệu quả thiết thực, đáng chú ý như đề tài nghiên cứu cấp thành phố về “Nghiên cứu, sưu tầm văn nghệ dân gian và lễ hội dân gian Đà Nẵng”, hội thảo về chí sĩ Phan Châu Trinh, về 100 năm phong trào Duy Tân, về hiện trạng và giải pháp  bảo quản hiện vật trưng bày tại Bảo tàng điêu khắc Chăm, về bảo tồn và phát huy làng đá mỹ nghệ Non Nước, về điều tra nghiên cứu, lập hồ sơ về  lễ hội Khao lề thế lính Hoàng Sa tại huyện Hoàng Sa,…Nghệ thuật tuồng truyền thống cũng được quan tâm triển khai biểu diễn, phục vụ khách tham quan trong và ngoài nước. Bảo tàng nghệ thuật tuồng được bổ sung nhiều hiện vật và tư liệu quý về tuồng cổ. Những vở tuồng cổ được khôi phục, giới thiệu nghệ thuật tuồng đến với các tầng lớp nhân dân, và đưa vào chương trình ngoại khóa tại các trường phổ thông trên địa bàn.

Trong những năm qua, công tác kiểm kê di tích lịch sử – văn hóa được tiến hành, Đà Nẵng hiện có 14 di tích được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia [7] và 28 di tích lịch sử – văn hóa cấp thành phố [8]. Trong số đó, có nhiều di tích đã được trùng tu, tôn tạo khang trang như: Di tích thành Điện Hải; Nhà thờ Tiền hiền làng An Hải và Thoại Ngọc Hầu; Tượng đài Mẹ Nhu và 7 dũng sĩ Thanh Khê; Đình Hải Châu; Đình Nại Nam, Đình Túy Loan… cùng nhiều di tích cấp thành phố khác. Đặc biệt khu di tích thắng cảnh cấp quốc gia Ngũ Hành Sơn đã được UBND thành phố Đà Nẵng và quận Ngũ Hành Sơn quan tâm đầu tư nên ngày càng thay đổi và khởi sắc. Nhiều công trình được đầu tư, tôn tạo, góp phần tạo thêm những sản phẩm du lịch và điểm tham quan mới trong khu di tích danh thắng Ngũ Hành Sơn. Tháng 6/2009, UBND thành phố Đà Nẵng đã chính thức phê duyệt Đồ án quy hoạch chi tiết Công viên Văn hóa Lịch sử Ngũ Hành Sơn với nhiều hạng mục xây dựng nhằm phục vụ cho các nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn cảnh quan văn hóa, phục vụ nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của công chúng và tôn vinh nghề điêu khắc đá truyền thống của người dân địa phương. Đây chính là điều kiện cần thiết để khu di tích danh thắng Ngũ Hành Sơn trở thành một trung tâm du lịch văn hóa lịch sử hấp dẫn của Đà Nẵng và của cả nước.  

Bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm Đà Nẵng với hơn 2.000 hiện vật độc đáo, có giá trị của nền văn hóa Champa, trở thành một địa chỉ văn hóa đặc sắc của Đà Nẵng, thu hút nhiều du khách và các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu. Bảo tàng Lịch sử Đà Nẵng đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục truyền thống cách mạng hào hùng và truyền bá các giá trị lịch sử – văn hóa địa phương cho các thế hệ người dân Đà Nẵng. Hàng năm, bảo tàng đã tích cực vận động nhân dân sưu tầm, hiến tặng cho bảo tàng nhiều hiện vật có giá trị. Nhân dân nhiều địa phương trong thành phố đã có ý thức trong việc bảo vệ, giữ gìn di tích lịch sử văn hóa, đóng góp kinh phí để trùng tu tôn tạo các di tích, tham gia giữ gìn và phát huy tác dụng các lễ hội truyền thống.

4.3. Về phát triển văn học, nghệ thuật

Hoạt động văn học, nghệ thuật của Đà Nẵng phát triển lành mạnh, đúng định hướng theo tinh thần Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về “tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”, văn học, nghệ thuật có những bước chuyển mình khá toàn diện, đã có nhiều khởi sắc, đạt được nhiều thành tựu, làm phong phú, đa dạng đời sống văn hóa thành phố.

Nhiều cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật về thành phố Đà Nẵng được đông đảo văn nghệ sĩ hưởng ứng và có nhiều tác phẩm có chất lượng, bám sát thực tiễn sinh động của thành phố, khắc họa khá đậm nét những giá trị truyền thống lịch sử và cách mạng của Đà Nẵng, thể hiện trong các tác phẩm điêu khắc, hội họa, âm nhạc, các vở diễn,…công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian được chú ý. Công tác bồi dưỡng, đào tạo lớp thiếu niên được đầu tư, bồi dưỡng hội viên về nhận thức chính trị, tư tưởng, thẩm mỹ, gắn với hưởng ứng Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được các cấp, các ngành và Liên hiệp Hội quan tâm chu đáo. Đã xuất hiện những gương mặt trẻ có triển vọng [9]. Đại hội lần thứ VII của Liên hiệp các Hội văn học, nghệ thuật thành phố năm 2010 đã mở ra một bước ngoặc mới trong đời sống văn học, nghệ thuật. [10] Các hội chuyên ngành hoạt động đa dạng và đạt những thành quả cụ thể. Nhiều cuộc triển lãm trong và ngoài thành phố được tổ chức, giới thiệu sản phẩm đá nghệ thuật với công chúng, nhiều đầu sách văn hóa-lịch sử địa phương được xuất bản, phổ biến sâu rộng đến với các tầng lớp nhân dân. Nhiều vở diễn và các trích đoạn tuồng cổ có giá trị đã được dàn dựng và ghi hình lưu giữ; Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh đã xây dựng nhiều chương trình, vở diễn tham tham gia các hội thi, hội diễn quốc gia và khu vực và đã đạt thành tích cao.

Hệ thống thư viện tuy có khó khăn về cơ sở vật chất nhưng đã duy trì vốn sách và tài liệu, phát huy được lượng người đọc sách. Ngoài Thư viện Khoa học tổng hợp Đà Nẵng là thư viện cấp thành phố do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý, tại các quận, huyện như Cẩm Lệ, Sơn Trà, Hòa Vang cũng đã hình thành thư viện cấp quận/huyện và có 10 thư viện cơ sở đặt tại các phường, xã trong thành phố.

Các tổ chức kinh tế ngoài công lập tự đứng ra thành lập các cơ sở dịch vụ văn hóa công cộng như hệ thống rạp chiếu bóng Mega Star, Diamond, cơ sở 86 Trần Phú, Dana Film…; đã thành lập các đội nhóm hoạt động biểu diễn nghệ thuật ngoài công lập như Đoàn Nghệ thuật Dân gian Non Nước, Đoàn Nghệ thuật Minh Nhật, các nhóm nhạc dân tộc. Trên địa bàn thành phố đã hình thành các cơ sở trưng bày mỹ nghệ, nhất là nghệ thuật điêu khắc đá Non Nước.

4.4. Về phát triển giáo dục-đào tạo

Ngành Giáo dục – Đào tạo từ năm 1997 đến nay không ngừng vươn lên thực hiện tốt mục tiêu: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực”. Ngành đã phát triển nhanh chóng về cơ sở vật chất và chất lượng dạy học. Mạng lưới trường lớp phát triển rộng khắp trên địa bàn, kể cả các xã miền núi của huyện Hòa Vang. Đội ngũ giáo viên và số lượng học sinh ngày càng tăng [11]. Đầu năm 2001, thành phố đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, đến nay đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ trong nhân dân [12]. Từ 312 trường học, cơ sở giáo dục năm 1997, nay (2010) thành phố có 414 trường học, cơ sở giáo dục [13]. Việc huy động học sinh ra lớp hằng năm đảm bảo 100% đối với trẻ 5 tuổi, học sinh tiểu học, THCS và trên 90% đối với học sinh PTTH. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, đào tạo nhân tài cũng đạt được những kết quả đáng kể [14], số lượng và chất lượng ngày một tăng lên, học sinh năng khiếu đều tăng đáng kể theo năm. Từ năm 2005 đến năm 2009 có 10 giải thưởng quốc tế; năm 2009, đoàn học sinh Đà Nẵng đoạt 65 giải/68 học sinh dự thi, xếp thứ nhì cả nước. Trong năm 2009, lần đầu thành phố Đà Nẵng có học sinh đạt giải nhất quốc gia và cũng là học sinh duy nhất của Việt Nam đoạt huy chương bạc cuộc thi viết thư quốc tế UPU.

Đội ngũ giảng dạy của ngành Giáo dục-đào tạo thành phố ngày càng đông, chất lượng giảng dạy ngày càng tăng, đến nay có 100% cán bộ quản lý mầm non, tiểu học, THCS, PTTH, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp đạt chuẩn [15]. Cơ sở trang thiết bị dạy học được thành phố đầu tư nâng cấp, hiện đại, đảm bảo đủ đồ dùng dạy học. Các trung tâm Giấo dục cộng đồng được quan tâm xây dựng và hoạt động thường xuyên. Thành phố cũng nổ lực xây dựng, hình thành trình độ dân trí và nguồn nhân lực có khả năng vận dụng tri thức mới của thời đại vào các lĩnh vực sản xuất. Do đó chủ trương xã hội hóa giáo dục và công bằng xã hội trong giáo dục cũng được quan tâm, tạo mọi điều kiện để con em gia đình chính sách, học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật, học sinh người dân tộc có cơ hội học tập và được thụ hưởng các điều kiện học tập như những trẻ em bình thường khác.

4.5. Về phát triển báo chí, xuất bản

Báo chí xuất bản đã đóng vai trò ngày àng quan trọng trong quá trình phát triển văn hóa thành phố Đà Nẵng, từ chỗ một thành phố năm 1975 không có đài phát thành, truyền, không có sản phẩm báo chí, thì nay có đài PT-TH, có báo chí, …kịp thời chuyển tải thông tin đa dạng, phong phú đến với các tầng lớp nhân dân. Hệ thống báo đài thành phố cùng với các cơ quan báo chí Trung ương, đoàn thể đóng trên địa bàn đã tham gia tích cực trên mặt trận tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, chống mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố, góp phần đáng kể đề cao giá trị văn hóa của thành phố hiện nay.

Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý, tạo điều kiện cho phóng viên, các cơ quan báo chí hoạt động trên mọi lĩnh vực. Hằng quý, Ban Tuyên giáo có tổ chức họp báo nhằm thông tin tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, định hướng công tác tuyên truyền, giải đáp những thắc mắc của báo, đài về các vấn đề có liên quan đến thành phố [16].

Nhà xuất bản Đà  Nẵng khắc phục khó khăn, tập hợp được đông đảo lực lượng cộng tác viên, vươn lên tổ chức nhiều đầu sách có giá trị, phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của địa phương, đáp ứng nhu cầu bạn đọc trong và ngoài thành phố. 6 tháng đầu năm 2010, Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản được 11/230 ngàn bản sách, đạt 4,8%. Ủy ban nhân dân thành phố trợ giá cho các tác giả, tác phẩm mỗi năm mỗi tăng từ 50 triệu đồng năm 1998, đến 200 triệu đồng năm 2003 và năm 2010 là 500 triệu đồng.

4.6. Về phát thanh-truyền hình

           Năm 1975, sau khi tiếp quản đài phát sóng An Hải, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ) bắt tay xây dựng đài phát thanh Đà Nẵng, đây là tiền thân của đài PH-TH Đà Nẵng ngày nay. Hằng ngày sóng phát thanh đã chuyển tải đến công chúng các chương trình thời sự trong nước và trong tỉnh, các chuyên mục, chuyên đề, văn nghệ, ca nhạc phục vụ nhân dân thành phố. Cùng với đài phát thanh là hệ thống truyền thanh tại các quận huyện được xây dựng, phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị tại các địa phương.

           Năm 1997, sau khi thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương, theo đó đài truyền hình Đà Nẵng trở thành đài PT-TH Đà Nẵng. Để phản ảnh tình hình xây dựng và phát triển thành phố trong thời kỳ mới, các chương trình thời sự, văn hoá văn nghệ phục vụ nhân dân được quan tâm xây dựng, kịp thời cổ vũ, động viên và thông tin đến các tầng lớp nhân dân thành quả xây dựng và phát triển thành phố, giữ vững định hướng truyên truyền xây dựng Đà Nẵng theo tinh thần Nghị quyết lần thứ XIX của Đảng bộ thành phố. Đài ngày càng có nhiều chương trình đa dạng, nhiều chuyên mục phục vụ nhân dân kịp thời, góp phần tạo nên sự đồng thuận của nhân dân thành phố đối với những quyết sách an sinh, chỉnh trang đô thị, về thực hiện chương trình “5 không”, “3 có” của Đảng bộ và chính quyền thành phố. Lực lượng phóng viên trưởng thành nhanh chóng, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động PT-TH không ngừng được hoàn thiện. Đến nay hầu hết người dân thành phố đều tiếp nhận được thông tin từ hoạt đông PH-TH thành phố.

4.7. Về giao lưu văn hóa với thế giới

Thành phố Đà Nẵng đã đẩy mạnh quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức nghề nghiệp ở nước ngoài để có thêm nguồn kinh phí xã hội hóa các hoạt động văn hóa. Trong thời gian qua, nhiều tổ chức phi chính phủ, tổ chức nghề nghiệp của nước ngoài như: Quỹ điêu khắc đá Na Uy; Hội đồng Vùng Nord Pas de Calais (Pháp), Quỹ Đại sứ Hoa Kỳ, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Châu Á… đã có những tài trợ cho các hoạt động văn hóa và sự kiện văn hóa diễn ra ở Đà Nẵng.

Thành phố Đà Nẵng cũng đã cử các đoàn nghệ thuật của thành phố tham dự các lễ hội văn hóa quốc tế ở Nhật Bản, Đan Mạch, Hàn Quốc… và đưa cổ vật của Bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm đi triển lãm tại Bỉ, Áo, Pháp, Hoa Kỳ… nhằm giới thiệu di sản văn hóa và quảng bá các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc và của địa phương với bạn bè quốc tế.

Đặc biệt, cuộc thi bắn pháo hoa quốc tế được tổ chức thành công trong các năm 2008, 2009 và 2010 đã trở thành một lễ hội văn hóa, một hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế và là hoạt động quảng bá cho thương hiệu Đà Nẵng trong lĩnh vực du lịch, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước về tham dự.

4.8. Về xây dựng hệ thống thiết chế và các công trình văn hóa

Hệ thống thiết chế và các công trình văn hóa được quan tâm đầu tư. Nhiều công trình văn hóa quan trọng được xây dựng mới như: Nhà biểu diễn đa năng, Nhà hát Trưng Vương, Bảo tàng Lịch sử Đà Nẵng, Trường Trung học Văn hóa – Nghệ thuật… Riêng đối với Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, thành phố đã dành sự quan tâm đặc biệt: năm 2001, Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh được xây dựng với cấu trúc hiện đại nhưng vẫn bảo đảm tính truyền thống vốn có dành riêng cho nghệ thuật Tuồng, với quy mô 2 tầng, có sân khấu và hội trường 220 chỗ ngồi, đạt tiêu chuẩn trang bị âm thanh, ánh sáng hiện đại. Ngoài ra, thành phố còn đầu tư xây dựng khu bảo tàng truyền thống nghệ thuật Tuồng với rất nhiều hiện vật đặc trưng và tài liệu quý giá của bộ môn nghệ thuật Tuồng; xây dựng nhà lưu niệm nghệ nhân Tống Phước Phổ, một soạn giả lỗi lạc của sân khấu Tuồng cả nước.

Hệ thống thiết chế văn hóa cấp quận/huyện, phường/thôn, tổ dân phố cũng đã được đầu tư xây dựng. Hầu hết các quận huyện đã và đang triển khai các dự án Trung tâm văn hóa – thể thao. Đến nay các quận Hải Châu, Cẩm Lệ và huyện Hòa Vang đã xây dựng hoàn thành và đưa các thiết chế này đi vào hoạt động. Đã hình thành 11 nhà văn hóa cấp phường và 13 điểm bưu điện văn hóa xã. Các cơ sở này duy trì tổ chức sinh hoạt tương đối đều đặn phục vụ nhân dân ở các địa phương.

  1. 5. NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN

5.1. Những tồn tại, hạn chế

Những thành tựu và kết quả đạt được trong lĩnh vực văn hóa chưa vững chắc và chưa tương xứng với sự phát triển về kinh tế, xã hội của thành phố. Chất lượng phát triển văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa còn nhiều mặt hạn chế.

Nếp sống văn minh đô thị chưa thực sự đi vào đời sống nhân dân; các chuẩn mực trong đời sống văn minh đô thị chưa được coi trọng. Trong đời sống xã hội vẫn còn nhiều biểu hiện thiếu văn minh; hiện tượng càn quấy, coi thường pháp luật, làm mất an toàn xã hội, bạo hành trong gia đình, cách ứng xử thiếu văn hóa nơi công cộng vẫn tồn tại. Sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận xã hội làm ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần, môi trường văn hóa lành mạnh.

Đời sống văn hóa, văn học nghệ thuật còn đơn điệu, thiếu sáng tạo, chưa có sức lôi cuốn, chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của quần chúng, chưa có các hoạt động văn hóa nghệ thuật và tác phẩm văn học tạo được dấu ấn mạnh mẽ trong đời sống.

Công tác giáo dục thẩm mỹ, nhất là đối với thanh thiếu niên chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành chức năng nên hiệu quả thấp; hưởng thụ văn hóa nghệ thuật, mức tiêu dùng sản phẩm văn hóa còn thấp. Hoạt động giao lưu văn hóa với các địa phương trong khu vực, trong nước còn hạn chế, các hoạt động văn hóa đối ngoại chưa phát huy hiệu quả đáng kể.

Chưa xây dựng được đội ngũ cán bộ giỏi trên các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật chuyên ngành, chưa khai thác và phát huy hết tiềm năng cán bộ và lực lượng văn nghệ sĩ. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên ngành từ thành phố, quận huyện đến xã phường chưa theo kịp yêu cầu của hoạt động văn học, nghệ thuật; hiệu quả còn thấp và đang có sự hẫng hụt lớn.

Công tác qui hoạch cũng như tiến độ đầu tư, xây dựng các công trình văn hóa của thành phố và các địa phương diễn ra chậm. Các thiết chế văn hóa ở cả 3 cấp (thành phố, quận/huyện, xã/phường) đều ở tình trạng vừa thừa, vừa thiếu; nhìn chung là chắp vá, thiếu đồng bộ và hiệu quả sử dụng thấp. Thiết chế văn hóa cấp xã, phường chưa được chú trọng đầu tư đúng mức.

5.2. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

Thực trạng và các tồn tại, yếu kém nêu trên có những nguyên nhân khách quan như sự bỡ ngỡ, lúng túng trong lực lượng hoạt động văn hóa, văn nghệ trước những biến đổi to lớn, nhanh chóng trên tất cả lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội; ảnh hưởng của toàn cầu hóa và làn sóng văn hóa bên ngoài du nhập ào ạt đã tác động đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của người dân. Tuy nhiên, phải nghiêm túc nhìn nhận sự tồn tại, yếu kém nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan sau đây:

– Nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa của nhiều cấp, nhiều ngành và một bộ phận cán bộ lãnh đạo chưa đúng tầm; chưa nhận thức mối quan hệ gắn bó giữa kinh tế, văn hóa và chính trị; chưa quan tâm gắn phát triển kinh tế đi đôi với xây dựng và phát triển văn hóa; chưa coi phát triển văn hóa là trách nhiệm của toàn xã hội.

– Bản thân ngành văn hóa, nghệ thuật chưa đề xuất được các cơ chế và giải pháp kịp thời nhằm tháo gỡ khó khăn trước mắt và lâu dài, có sức thuyết phục mạnh mẽ về hoạt động của ngành đối với lãnh đạo thành phố cũng như các ngành liên quan trong việc chỉ đạo và phối hợp hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ.

– Đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa từ thành phố đến quận/huyện, xã/phường đều thiếu, luôn biến động và còn bất cập với so với yêu cầu nhiệm vụ.

– Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đối với lĩnh vực văn hóa chưa sâu sát, thiếu sự chỉ đạo thỏa đáng, kịp thời đối với một số mặt hoạt động; việc đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất trong lĩnh vực văn hóa còn hạn chế, tình trạng cơ sở vật chất nghèo nàn, nhất là cấp quận huyện, xã phường đã làm hạn chế đến hiệu quả các mặt hoạt động.

  1. 6. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Từ thực tiễn phát triển và quản lý văn hóa thành phố theo tinh thần Nghị quyết Trng ương V (khóa VIII), kết luận của Nghị quyết Hội nghị Trung ương X (khóa IX), Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạo hóa đất nước, Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới và Nghị quyết XIX của Đảng bộ thành phố; trong những năm qua có thể rút ra những bài học kinh nghiệm sau đây:

– Một là, có sự lãnh đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân và sự quyết tâm chỉ đạo thực hiện của Ủy ban nhân dân thành phố và chính quyền các cấp là yếu tố tạo nên sự phát triển văn hóa sau 13 năm thành phố trực thuộc Trung ương. Coi “phát triển văn hóa là động lực, là  nền tảng tinh thần của xã hội”, Đảng bộ và chính quyền thành phố Đà Nẵng luôn quan tâm xây dựng và phát triển văn hóa tương xứng với sự phát triển kinh tế – xã hội. Mạnh dạn đề ra và triển khai nhiều chương trình, đề án xây dựng và phát triển văn hóa sát hợp với từng giai đoạn phát triển của thành phố Đà Nẵng. Nhờ đó đã tập trung được nguồn lực tinh thần và vật chất cần thiết để thực hiện thắng lợi các chương trình, đề án đã đề ra.

– Hai là, xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, con người Đà Nẵng phát triển toàn diện. Thực hiện dân chủ, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp ủy Đảng, mặt trận, đoàn thể, các ban ngành địa phương trong xây dựng, phát triển và quản lý văn hóa theo định hướng “tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc”, coi đó là mục tiêu hàng đầu và là khâu then chốt trong xây dựng và phát triển văn hóa của thành phố Đà Nẵng.

– Ba là, mạnh dạn thực hiện những chương trình, chính sách mang tính đột phá trong xây dựng và phát triển văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh đô thị trên địa bàn thành phố và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá thành phố như các chương trình: “Thành phố 5 không”, “Thành phố 3 có”; có chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về làm việc tại thành phố Đà Nẵng.

– Bốn là, giữ vững mối quan hệ phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cấp, các ngành với toàn bộ hệ thống chính trị, phát huy dân chủ trong hoạt động văn hóa, phát huy tính năng động của các tầng lớp nhân dân trong thực hiện các chương trình phát triển văn hóa-xã hội; phát huy cao độ tinh thần đoàn kết nhất trí, vừa huy động sức dân trong phát triển văn hóa, vừa đồng thời tạo niềm tin cho dân thấy và thừa hưởng trực tiếp thành quả của phát triển văn hóa đem lại, từ đó văn hóa có điều kiện thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người.

– Năm là, chú trọng tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại như một xu thế tất yếu của thời đại, song cần phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa nhằm giữ vững bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc, của địa phương, phòng chống những ảnh hưởng độc hại của văn hóa ngoại lai và những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng.

– Sáu là, nhanh chóng tìm giải pháp khắc phục những yếu kém, tồn tại trong xây dựng và phát triển văn hóa, hướng đến xây dựng một nền văn hóa Đà Nẵng phát triển toàn diện và bền vững, “có vai to lớn và là một trong những động lực trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện con người Đà Nẵng(19)

  1. KẾT LUẬN

Đại hội X (2006) của Đảng khẳng định phải “làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới của con người Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của loài người, tăng sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy độc hại. Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân”.(20)

Thành phố Đà Nẵng đang triển khai Thực hiện Quyết định số 581/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 tại thành phố Đà Nẵng với quan điểm rất cụ thể:

Tiếp tục quán triệt Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vận dụng vào điều kiện cụ thể của thành phố:

– Trên cơ sở xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng và phát triển thành phố thành trung tâm văn hóa của khu vực miền Trung và Tây Nguyên, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.

– Đầu tư xây dựng và phát triển văn hóa thành phố theo kịp với đà phát triển kinh tế, tạo những điểm nhấn văn hóa quan trọng, nét độc đáo trong văn hóa Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

– Công tác xây dựng, phát triển văn hóa luôn gắn bó mật thiết với các tầng lớp nhân dân và các đơn vị, tổ chức, là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. Xây dựng, phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.

Từ quan điểm này, kết hợp với việc tận dụng những thời cơ và hạn chế những thách thức do quá trình đô thị hóa và hội nhập quốc tế mang lại; tiếp thu, vận dụng sáng tạo những điều kiện thuận lợi của quốc gia và quốc tế vào tình hình cụ thể của thành phố, Đà Nẵng sẽ thực hiện thành công chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 trên địa bàn thành phố./. (1.2002)

CHÚ THÍCH

(1) Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 16/10/2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

(2) Cẩm Lệ là một quận mới của thành phố Đà Nẵng được thành lập theo Nghị định 102/NĐ-CP ngày 05/8/2005 của Chính phủ, trên cơ sở phường Khuê Trung của quận Hải Châu và 03 xã Hòa Thọ, Hòa Phát, Hòa Xuân của huyện Hòa Vang để lập 06 phường: Khuê Trung, Hòa Thọ Đông, Hòa Thọ Tây, Hòa Phát, Hòa An và Hòa Xuân.

(3) Theo Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng, http://www.danangcity.gov.vn /portal/page/portal/danang/chinhquyen/gioi_thieu/Dieu_kien_tu_nhien.

(4); (5) Võ Duy Khương – Hồ Kỳ Minh – Nguyễn Việt Quốc, “Thành tựu phát triển kinh tế của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2009”, Tạp chí Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng, Số 3+4/2010, tr. 6; tr. 11.

(6) Nguyên Ngọc (Chủ biên), Tìm hiểu con người xứ Quảng, Nxb Đà Nẵng, 2005, tr. 264.

(7) Về 5 quan điểm chỉ đạo cơ bản và 10 nhiệm vụ cụ thể nêu trên, xin tham khảo: Nghị quyết số 05-NQ/TW về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (Phần thứ 2: Phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa). Đảng Cộng sản Việt Nam. Các nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 – 1999, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.

(8); (9) Quyết định số 138/2004/QĐ-UB, ngày 18/8/2004 của UBND thành phố Đà Nẵngvề việc thực hiện chương trình Phát triển văn hóa, văn học – nghệ thuật và xây dựng nếp sống văn minh đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và vị thế mới của Đà Nẵng, giai đoạn 2005 – 2010.

(10); (11) Thành ủy Đà Nẵng, Chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII).

(12) Chương trình “Thành phố 5 không” do thành phố Đà Nẵng triển khai thực hiện từ năm 2001. Tại Hội nghị Thành ủy lần thứ 16 họp ngày 8/12/2009, Thành ủy Đà Nẵng đã chủ trương điều chỉnh mục tiêu “không có hộ đói” và “không có người mù chữ” trong chương trình “Thành phố 5 không” thành “không có hộ gia đình nghèo đặc biệt khó khăn”“không có học sinh bỏ học trong độ tuổi”.

(13) Chương trình “Thành phố 3 có” do thành phố Đà Nẵng triển khai thực hiện từ năm 2005, hiện vẫn tiếp tục thực hiện với nhiệm vụ ưu tiên là: “có nhà ở xã hội” cho người có thu nhập thấp.

(14) Phạm Thị Thanh Tâm, “Toàn cầu hóa và việc bảo tồn văn hóa truyền thống”, Văn hóa nghệ thuật, Số 298, Tháng 4/2009, tr. 28.

(15) Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 16/10/2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

(16) Võ Duy Khương, “Phát huy lợi thế của thành phố Đà Nẵng trong phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung”, Tạp chí Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng, Số 1+2/2010, tr. 61.

(17) Gồm các chương trình, quyết định, kế hoạch như sau:

– Nghị quyết số 12/2001/NQ-HĐND ngày 11/01/2001 của HĐND thành phố Đà Nẵng về việc Xây dựng và phát triển văn hóa thành phố giai đoạn 2001 – 2005.

– Kết luận số 20/KL-TU ngày 26/7/2004 của Thành ủy Đà Nẵng về việc thực hiện chương trình “Phát triển văn hóa, văn học – nghệ thuật và xây dựng nếp sống văn minh đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và vị thế mới của Đà Nẵng, giai đoạn 2005 – 2010”.

– Quyết định 138/2004/QĐ-UB ngày 18/8/2004 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc thực hiện chương trình “Phát triển văn hóa, văn học – nghệ thuật và xây dựng nếp sống văn minh đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và vị thế mới của Đà Nẵng, giai đoạn 2005 – 2010”.

– Kế hoạch 714/KH-VHTT ngày 22/12/2004 của Sở Văn hóa – Thông tin thành phố Đà Nẵng về việc tổ chức triển khai thực hiện chương trình “Phát triển văn hóa, văn hóa – nghệ thuật và xây dựng nếp sống văn minh đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và vị thế mới của Đà Nẵng, giai đoạn 2005 – 2010”.

– Chương trình hành động số 29-Ctr/TU ngày 23/10/2008 của Thành ủy Đà Nẵng thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị “về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”.

– Kế hoạch số 1991 UBND-VX ngày 03/4/2009 triển khai chương trình hành động của Thành ủy Đà Nẵng về thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị “về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”.

(18) Đảng Cộng sản Việt Nam, Các nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 – 1999, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 173.

(19) Chương trình hành động số 29-Ctr/TU ngày 23/10/2008 của Thành ủy Đà Nẵng thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị “về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”.

(20) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 213./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Các nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 – 1999, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
  2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006.
  3. Nghị quyết 33-NQ/TW ngày 16/10/2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
  4. Nghị quyết của HĐND thành phố Đà Nẵng về việc xây dựng và phát triển văn hóa thành phố 2001 – 2005, Số 12/2001/NQ-HĐND, Ngày 11/01/2001.
  5. Báo cáo tóm tắt “Đề án Xây dựng và phát triển văn hóa thành phố giai đoạn 2001 – 2005” theo Chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết hội nghị BCH TW lần thứ 5 (khóa VIII) của UBND thành phố Đà Nẵng, Số 03/BC-UB, Ngày 08/01/2001
  6. Chương trình hành động của Thành ủy Đà Nẵng thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Số 16-Ctr/TU, Ngày 19/11/2003.
  7. Kết luận của Thành ủy Đà Nẵng về việc thực hiện Chương trình “Phát triển văn hóa, văn học – nghệ thuật và xây dựng nếp sống văn minh đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và vị thế mới của Đà Nẵng, giai đoạn 2005 – 2010”, Số 20/KL-TU, Ngày 26/7/2004.
  8. Quyết định của UBND thành phố Đà Nẵng về việc thực hiện chương trình “Phát triển văn hóa, văn học – nghệ thuật và xây dựng nếp sống văn minh đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và vị thế mới của Đà Nẵng, giai đoạn 2005 – 2010”, Số 138/2004/QĐ-UB, Ngày 18/8/2004.
  9. Báo cáo Tổng kết 5 năm triển khai Đề án xây dựng và phát triển văn hóa thành phố giai đoạn 2001 – 2005 theo Nghị quyết 12/2001/HĐND của HĐND thành phố Đà Nẵng, Số 82/BC-UBND, Ngày 27/7/2006.
  10. Quyết định của UBND thành phố Đà Nẵng về việc ban hành đề án xây dựng nếp sống văn hóa – văn minh đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010, Số 143/2005/QĐ-UBND, Ngày 3/10/2005.
  11. Quyết định của UBND thành phố Đà Nẵng về ban hành Đề án đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động văn hóa trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010, Số 16/QĐ-UBND, Ngày 14/02/2007.
  12. Chương trình hành động của Thành ủy Đà Nẵng thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị “về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”, Số 29-Ctr/TU, Ngày 23/10/2008.
  13. Kế hoạch của UBND thành phố Đà Nẵng triển khai chương trình hành động của Thành ủy Đà Nẵng về thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị “về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”, Số 1991 UBND-VX, Ngày 03/4/2009./.

 

                                                                         

[1] Hội thảo quốc tế “Giao lưu văn hóa Việt Nam – Trung Quốc” tổ chức tại Trung tâm Furama, thành phố Đà Nẵng, 3/8/2010.

[2] Báo Quân đội nhân dân ngày 29-3-1976, tr 7.

[3] Được Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng thông qua tại kỳ họp thứ 4, khóa VI, ngày 11/1/2001, gồm 9 nội dung: 1. Xây dựng con người Đà Nẵng và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống văn minh đô thị; 2. Bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị các di sản văn hóa trên địa bàn thành phố; 3. Đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm của thành phố, hoàn thành và đưa vào sử dụng từng bước trong giai đoạn 2001 – 2005; 4. Nâng cao mức hưởng thụ văn hóa cho nhân dân và chất lượng hoạt động văn hóa nghệ thuật; 5. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực của đội ngũ của cán bộ hoạt động trên lĩnh vực văn hóa; 6. Triển khai chủ trương xã hội hóa, huy động các nguồn lực, thu hút các tài năng tham gia xây dựng và phát triển thành phố; 7. Phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật, báo chí xuất bản, phát thanh truyền hình; 8. Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ phục vụ cho sự phát triển văn hóa; 9. Đưa phong trào thi đua yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa lên tầm cao mới.

[4] Chương trình này tập trung vào 2 nội dung: 1. Xây dựng nếp sống văn minh đô thị với mục tiêu “Xây dựng tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, nhân cách và nếp sống văn minh, hiện đại cho các tầng lớp nhân dân đang sinh sống và làm việc tại Đà Nẵng”.(8) 2. Phát triển văn hóa, văn học – nghệ thuật trên địa bàn thành phố với mục tiêu “Giữ gìn, phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của thành phố nhằm nâng cao lòng tự hào về truyền thống quê hương, xây dựng tình cảm gắn bó và tình yêu quê hương, đất nước cho thế hệ trẻ hôm nay và các thế hệ tiếp theo. Giới thiệu, trao đổi các giá trị văn hóa của thành phố với các địa phương trong nước và thế giới. Gắn việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa với việc xây dựng các tuyến điểm du lịch”.(9) 

[5] Tự quản bản thân, tự quản gia đình, tự quản địa bàn.

[6] Nguồn: Thông tin Nội bộ số 3/2010, nhân kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng thành phố Đà Nẵng.

[7] Gồm: đình Nại Nam, đình Túy Loan, đình Bồ Bản, nhà thờ chư phái tộc Quá Giáng, đình và nhà thờ tiền hiền Hải Châu, Nghĩa trủng Hòa Vang, Nghĩa trủng Phước Ninh, mộ danh nhân Ông Ích Khiêm, mộ danh nhân Đỗ Thúc Tịnh, danh thắng Ngũ Hành Sơn, bia chùa Long Thủ, Thành Điện Hải, đình Thạc Gián, nhà thờ tiền hiền An Hải và Thoại Ngọc Hầu.

[8] Gồm: di tích đình Mỹ Khê, nhà thờ tộc Huỳnh, nhà mẹ Nhu, đình Dương Lâm, đình Trung Nghĩa, đình Nam Thọ, miếu Hàm Trung, đình và nhà thờ Lỗ Giáng, …

[9] Hiện có 717 hội viên trong đó 337 hội viên thuộc các hội chuyên ngành Trung ương, có 1 Nghệ sỹ nhân dân và 11 Nghệ sỹ ưu tú. Cơ quan ngôn luận của Liên hiệp là T/c Non Nước và Trang thông tin điện tử vannghedanang.org.com.vn; ngoài ra còn có bản tin hàng tháng cập nhật thông tin hoạt động văn học, nghệ thuật đến với hội viên và các cơ quan ban, ngành thành phố.

[10] Đầu năm 2002, thành phố quyết định nâng Hội văn học, nghệ thuật lên Liên hiệp các Hội văn học, nghệ thuật và thành lập 7 hội chuyên ngành, nay có 7 hội chuyên ngành thuộc Liên hiệp Hội.

[11] Cuối năm học 2007-2008, tổng số học sinh, sinh viên trong cả thành phố có 236.403, tăng 40,3% so với năm học 1996-1997. Trong đó, học sinh mầm non có 43.658, học sinh phổ thông 151.444, học sinh trung cấp chuyên nghiệp 14.845 và 26.456 học sinh học tập theo phương thức không chính quy, gồm học sinh xoá mù chữ, bổ túc văn hoá, ngoại ngữ, tin học, nghề ngắn hạn. So với năm 1996-1997, số học sinh trung học phổ thông và số học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng rất nhanh, gấp khoảng 2,4 lần. Tính bình quân, trung học cơ sở tăng 7.54%/năm, trung học phổ thông tăng 17.97%/năm. Xu thế đi học đúng độ tuổi tăng lên: tỷ lệ 5 tuổi được học mẫu giáo lớn là 100% so với tổng số trẻ trong độ tuổi (10 năm trước là 8,30%); tỷ lệ trong độ tuổi tiểu học được đến trường là 100% (10 năm trước là 93%); quy mô giáo dục tiểu học ổn định dần. (Nguồn: Sở Giáo dục-Đào tạo)

 

[12] Phổ cập giáo dục tiểu học sớm nhất cả nước: 2010 có 100% xã, phường, quận, huyện hoàn thành và là đơn vị thứ 2 sau Hà Nội được công nhận phổ cập THCS, hoàn thành trước 10 năm so với mục tiêu đề ra.

[13] Gồm: 114 trường mầm non, mẫu giáo, 101 trường tiểu học, 51 trường THCS, 1 trường PTCS, 19 trường THPT, 1 trường PT cấp 1,2,3, có 8 Trung tâm Giáo dục thường xuyên, 18 trường trung học chuyên nghiệp, 56 trung tâm Giáo dục cộng đồng, 45 trung tâm cơ sở tin học, ngoại ngữ.

[14] Có 181 học sinh giỏi được thành phố đầu tư đào tạo đại học, thạc sĩ, tiến sĩ trong nước và nước ngoài.

[15] Toàn ngành có 5 tiến sĩ, 239 thạc sĩ, 4 NCS và gần 100 giáo viên đang theo học chương trình sau đại học. Hầu hết các trường, đơn vị có chi bộ độc lập và 2 trường THPT có Đảng bộ, các tổ chức cơ sở đảng đã thực sự trở thành hạt nhân lãnh đạo toàn diện nhà trường. Đến năm 2010, toàn ngành có 2.672 đảng viên.

[16] Báo Đà Nẵng, Đài PT-TH, báo Công An, T/c Non Nước và các T/c đặc san chuyên ngành khác ngày càng nâng cao chất lượng thông tin, không thương mại hóa, có ý thức đổi mới, tiếp cận với phương thức làm báo hiện đại.