MỘT SỐ Ý TƯỞNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

5

Văn hóa văn nghệ dân gian là một phần quan trọng của di sản văn hóa dân tộc. Hội văn nghệ dân gian ở trung ương là tổ chức chính trị- xã hội- nghề nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu, truyền dạy, bảo tồn và phát huy; đồng thời thúc đẩy ý thức của cộng đồng đối với việc kế thừa và thực hành di sản văn hóa văn nghệ dân gian. Bởi suy cho cùng di sản văn hóa dân gian luôn đồng hành cùng với đời sống con người.

Trong những năm qua, Chi hội Văn Nghệ dân gian Đà Nẵng bằng những hoạt động chuyên môn của mình đã đạt được nhiều thành quả quan trọng trong công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian Đà Nẵng, và mở rộng ra trong phạm vi vùng miền, cả nước. Thành quả đó là kết quả hoạt động của toàn thể hội viên Chi hội qua các nhiệm kỳ, đặc biệt là sự nỗ lực cống hiến của nhiều lớp hội viên và các hội viên đang còn hoạt động hiện nay.

Một tổ chức xã hội nghề nghiệp như Chi hội Văn nghệ dân gian thành phố Đà Nẵng có thể phát triển bền vững khi nó đảm bảo một số tiêu chí bền vững trên các phương diện về xã hội và đạo đức, về tài chính, về văn hóa, về giáo dục và hợp tác được không ? Về lý thuyết thì được. Nhưng thực tiễn lại hoàn toàn khác, khác theo cách hòa tan vào hội Văn nghệ dân gian địa phương và do Hội địa phương điều chỉnh. Bấy giờ Chi hội trung ương tại địa phương lệ thuộc, như ở Đà Nẵng lệ thuộc gần như là toàn diện trong tất cả các hoạt động như là cách ăn theo. Trong các tiêu chí nêu trên, bên cạnh những tiêu chí mà Hội chúng ta đã đảm bảo được, vẫn còn một số tiêu chí tiềm ẩn thiếu tính bền vững.

Bài viết này tập trung đề cập đến một số ý tưởng phát triển bền vững của hội cần xem xét về đội ngũ, về nâng cao năng lực sưu tầm – nghiên cứu của hội viên và Chi hội.

 

  1. Tính bền vững về giáo dục và đội ngũ

Tôi nghĩ rằng, tổ chức Chi hội cơ sở sẽ đạt được tính bền vững về giáo dục và nâng cao năng lực khi tạo cơ hội và đảm bảo cơ hội cho các thành viên học hỏi và phát triển các kỹ năng mới. Điều này có thể liên quan đến việc Hội trao truyền kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm giữa các hội viên, các lớp hội viên. Chẳng hạn như Hội trung ương tổ chức hội thảo, tọa đàm, các buổi tập huấn, đào tạo cho đội ngũ hội viên, đặc biệt là đối với hội viên trẻ tuổi còn thiếu kinh nghiệm. Cơ cấu đội ngũ của Hội và Chi hội chúng ta cho thấy, Hội có một đội ngũ hội viên giàu nhiều kinh nghiệm, có chuyên môn tốt, đã và đang công tác trong nhiều lĩnh vực, không chỉ là Văn nghệ dân gian hay các ngành Khoa học xã hội nhân văn mà còn có các khoa học tự nhiên khác tham gia vào Hội/ Chi hội. Đây là lợi thế trong việc tạo nên một môi trường trao truyền kỹ năng, kiến thức về văn hóa văn nghệ dân gian cho thế hệ hội viên trẻ. Tuy nhiên, trên phương diện cơ cấu độ tuổi, tuổi trung bình của hội viên trong Chi hội Đà Nẵng khá cao, số hội viên dưới 40 tuổi chỉ chiếm dưới 1%. Như vậy, dù chúng ta đang có một đội ngũ chất lượng nhưng rất tiếc việc phát huy chất lượng nhân sự đúng với tiềm lực chưa tương xứng bởi đội ngũ hội viên trẻ quá ít. Nói một cách cụ thể, Chi hội Đà Nẵng đang thiếu bền vững về sự kế thừa. Thực trạng này còn dẫn đến những thách thức trong việc xây dựng đội ngũ hội viên trẻ để kế tục và phát triển hội trong những năm tới.

Bên cạnh thiếu đội ngũ hội viên trẻ, thì quan điểm đánh giá thấp vai trò đội ngũ hội viên lớn tuổi cũng sẽ tạo nên các nguy cơ về hoạt động bền vững của hội trong thời gian tới. Chúng tôi nghĩ rằng hội cần có cái nhìn thấu đáo về vai trò của lớp hội viên lớn tuổi, đây là lực lượng đóng vai trò đầu tàu trong việc định hướng, dẫn dắt cho hội phát triển. Thật là lãng phí khi chúng ta có một đội ngũ giàu kinh nghiệm, có chuyên môn, có tầm ảnh hưởng và có điều kiện về thời gian để tập trung vào công tác của hội nhưng không huy động được nguồn lực này vào công tác điều hành, phát triển hội. Không trọng dụng những nhà nghiên cứu, nhà giáo, nghệ nhân, hoặc chuyên gia trong các lĩnh vực như âm nhạc, thơ ca dân gian, dân ca, dân vũ,… sẽ khiến Chi hội đối mặt với nguy cơ phát triển thiếu bền vững.

1. Hội hoạt động trong điều kiện cộng đồng đã chuyển đổi từ cổ truyền đến đương đại (truyền thống đến hiện đại)

Hiện tại, sau nhiều năm công nghiệp hóa hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới, hầu hết các cộng đồng dân cư trên cả nước đều có chuyển biến tích cực từ xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp hiện đại. Các thôn, làng, bản sau thời gian thực hiện xây dựng nông thôn mới đã tiếp cận với văn hóa đô thị ngày càng nhiều, theo đó đã dần chuyển đổi từ cổ truyền đến đương đại các thành tố văn hóa dân gian ngày càng dễ nhận thấy.

Hội viên Chi hội tiếp cận một cộng đồng đang trong quá trình chuyển đổi, tiếp nhận các thành tố văn hóa mới thay cho các thành tố văn hóa dân gian cổ truyền hoàn toàn nằm ngoài dự liệu rằng sẽ tiếp cận một cộng đồng thuần nhất, mang đậm tính bản địa của cư dân trong cộng đồng. Văn hóa văn nghệ dân gian xuất phát từ làng xã nên lấy đơn vị làng xã là đối tượng sưu tầm, nghiên cứu, thì ở đây mang đầy dấu hiệu và các chỉ số đang trong quá trình hiện đại hóa theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ hội nhập khu vực và quốc tế. Tiếp cận một làng miền xuôi hay miền ngược, hoặc xuống miền duyên hải, điều dễ nhận ra sự biến đổi làm xuất hiện nhiều vấn đề về quan điểm và cách tiếp cận trong lúc điền dã về văn hóa dân gian. Điều này đặt ra cho chúng tôi cần chọn lựa phương thức tiếp cận phù hợp trong điều kiện cộng đồng dân cư đã chuyển đổi nhanh chóng trong tiến trình xây dựng và phát triển, chuyển đổi từ cổ truyền đến đương đại. Ở miền biển, sự chuyển đổi văn hóa đã lấn sâu vào từng người dân biển, mỗi gia đình người miền biển. Họ đã thay đổi cách sống, thói quen hằng ngày cho phù hợp với cuộc sống đương đại. Có làng biển xả ghe, xả lưới, xả dụng cụ nghề biển và thế là họ chuyển đổi nghề nghiệp, từng bước xa dần môi trưởng biển, kéo theo việc làm gãy đoạn văn hóa biển. Trong mỗi cá thể, họ đẩy dần văn hóa biển ra khỏi cuộc sống riêng tư, dẫn đến cộng đồng nghề biển không đủ năng lực duy trì nghề biển, theo đó văn hóa biển dần biến theo biển.

Phần này chúng tôi đề cập đến phương pháp thông qua thảo luận một số ý định về giữ gìn truyền thống và bản sắc trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu.

Theo Cyril E. Black: hiện đại hóa là một diễn trình, trong đó những định chế cổ truyền phải được thích ứng với những nhiệm vụ đang thay đổi nhanh chóng. Hạt nhân của hiện đại hóa là sự thích ứng của định chế truyền thống với những nhiệm vụ xã hội mới mẻ  Xem xét đặc điểm mà Black đưa ra, chúng tôi tiếp cận một cộng đồng làng, lấy đơn vị làng Gừng (Gâng) thuộc thị trấn P’rao, huyện Đông Giang để nhận diện tiến trình chuyển đổi văn hóa dân gian từ cổ truyền đến đương đại là thế nào !

Một là: hệ giá trị văn hóa dân gian cổ truyền (bản địa) của làng Gừng đã bị sự thâm nhập dẫn đến chuyển đổi làm biến đổi các thành tố dân gian cổ truyền trong một đến nhiều lễ tục. Đây là một thách đố trong bối cảnh đô thị hóa, nông thôn mới với kiến thức cổ truyền của cộng đồng người Cơ Tu làng Gừng. Trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế lan tỏa ngày càng sâu rộng vào tất cả các mặt trong đời sống người dân từ chính trị, kinh tế – văn hóa – xã hội,… dần tạo nên một thế giới phẳng như một nhà báo người Mỹ đã trao đổi trong tác phẩm Chiếc Lexus và cây ô liu, rằng Sự đe dọa hoặc sự xâm lăng văn hóa truyền thống của các dân tộc, một mặt bắt nguồn từ sự áp đặt của các chính sách kinh tế của các nước tư bản, mà tiêu biểu là các nước có công nghệ tiên tiến với phần còn lại của thế giới. Friedman đã nêu lại ý kiến của nhà sử học người Mỹ Ronald Steel, trong tác phẩm Bánh xe Lexus và cành ô liu, rằng: ” Chúng ta (tức người Mỹ) tin rằng những định chế của chúng ta phải giam hãm những định chế khác vào đống tro tàn của lịch sử,…Thông điệp văn hóa mà chúng ta truyền đạt thông qua Hollywood và Mc. Donal’s lan tràn trên thế giới đã trói buộc và tàn phá các xã hội khác. Không giống như các cuộc chinh phục trước đây, chúng ta không chỉ bắt người khác đầu hàng: chúng ta khăng khăng buộc họ phải thay đổi, phải giống như chúng ta…“. Và Friedman bình luận: “Chúng ta là thế đó. Chúng ta, những người Mỹ, là những vị tông đồ của thế giới đi nhanh, là kẻ thù của các truyền thống, là những vị tiên tri của thị trường tự do, và cha xứ truyền bá công nghệ cao“. Điều này tạo nên sự va chạm giữ hai hệ giá trị truyền thống và hiện đại (đương đại). Đây là vấn đề khó cho hội viên khi tiếp cận một cộng đồng như vậy. Chúng ta đi tìm cái cốt lõi đậm đà bản sắc văn hóa dân gian từng vùng, miền trên đất nước, nhưng thực tế lại cho thấy, sức mạnh của hệ giá trị đương đại đang đẩy nhanh quá trình biến đổi của văn hóa Cơ Tu bản địa ở thị trấn P’rao. Trong các cộng đồng – không riêng cho làng Gừng – những giá trị và thể chế truyền thống thường không đủ sức đẩy lui những ảnh hưởng của lề lối sinh hoạt của văn hóa đương đại đang từng bước tấn công vào cư dân bản địa. Đứng trước điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội mới cùng sự tác động không ngừng nghỉ của làn sóng văn hóa đương đại từ bên ngoài vào, xã hội người Cơ Tu chứng kiến và “đón nhận” bằng biện pháp vừa tiếp nhận, vừa loại trừ để tái cấu trúc lại các thành tố văn hóa dân gian phù hợp với xu thế mới. Tham dự, quan sát lễ têng ping của người Cơ Tu làng Duông thuộc thị trấn P’rao vào đêm ngày 3/10/2022, thấy rằng cộng đồng làng Duông chấp nhận thành tố văn hóa người Kinh và văn hóa từ bên ngoài vào trong lễ têng ping. Từ đó dẫn đến họ chấp nhận hàng loạt vấn đề liên quan đến quan niệm về nhân sinh – vũ trụ trong hệ thống vũ trụ quan và nhân sinh quan của người Cơ Tu làng Duông và của dòng họ A Ting. Như thế, xem ra những giá trị đương đại có ưu thế hơn đã đan xen vào giá trị văn hóa dân gian của họ đã tồn tại năm, bảy thế kỷ nay. Và họ chấp nhận sự biến đổi tái cấu trúc các thành tố và thiết lập mối quan hệ tương tác giữa các giá trị tương phản: hiện đại – nguyên thủy, bản địa – ngoại lai, cũ – mới.

Hai là: Đứng trước một cộng đồng có sự chuyển đổi như thế, hội viên của Chi hội Đà Nẵng làm thế nào để ghi chép đúng các thành tố dân gian bản địa đã trở thành truyền thống của họ. Và làm thế nào để hội viên Chi hội nhận ra đâu là truyền thống, đâu là thành tố đương truyền để trong cuộc điền dã có thể ghi chép lại đậm đà tính bản địa của tộc người thành văn bản.

Ba là: Quan niệm rằng folklore luôn gắn với yếu tố truyền thống đã chi phối cách chúng ta tiếp cận các vấn đề về văn hóa dân gian. Quan điểm này xem văn hóa dân gian là sản phẩm riêng của một cộng đồng hay một tộc người. “Tuyên bố tại hội nghị tại Sao-Paulo năm 1954: Folklore là sản phẩm của truyền thống được phát triển bằng truyền miệng. Hay một số diễn giải về folklore trong một số từ điển chuyên ngành ở Ý, Pháp như: folklore là “toàn bộ những nghệ thuật, phong tục và truyền thống dân gian” hay “folklore là ngành khoa học nghiên cứu truyền thống dân tộc” .

Đứng trước sự biến đổi các thành tố văn nghệ dân gian nhanh chóng như hiện nay, buộc hội viên phải có cách tiếp cận phù hợp. Các di sản văn hóa đó tồn tại trong người già, người có tuổi, nhưng lớp người này còn lại không nhiều, họ ra đi mang theo cả một kho tàng “nguồn sáng dân gian” ấy đi cùng. Hội viên trẻ của Chi hội thì ít, hội viên có tuổi không đi xa lặn sâu vào các buôn – làng – bản – sóc – thôn – xóm được để tìm hiểu ghi chép vốn văn hóa cổ truyền xưa nay tồn tại trong dân gian.

Bốn là: Điều đó khiến các hội viên Chi hội thường phải đi tìm những gì là truyền thống, là dân gian, hoặc chí ít là các đặc tính có tính đậm chất dân gian xưa. Tuy nhiên, hiện tại trong các cộng đồng dân cư từ miền biển, miền đồng bằng đến miền núi đều có sự chuyển đổi sự hiểu biết về tự nhiên, xã hội, núi rừng,… thì việc điền dã để sưu tầm, nghiên cứu là điều khó khăn. Như thế các giá trị truyền thống không phải là cái bất biến tồn tại mãi trong các tộc người. Khó khăn khi hội viên tiếp cận trong một cộng đồng hiện đại đã có sự biến đổi nhanh chóng, thậm chí biến đổi nhanh làm đứt gãy phân đoạn với truyền thống, từ đó hội viên đi điền dã sử dụng công cụ suy luận, tư biện làm ra một văn bản thiếu khách quan. Cái mà Michael Herzfel đã gọi đó là “tạo vật vụng về”. Vì mặc dù chúng có vẻ ngoài hào nhoáng và kỹ thuật nhưng yếu tố nghệ thuật của các sản phẩm phi cảm hứng này đã bị triệt tiêu”

Như vậy vấn đề đặt ra là:

Trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới như hiện nay các cộng đồng dần biến đổi theo hướng hiện đại hóa, hội viên Chi hội làm thế nào để ghi chép lại các yếu tố văn hóa dân gian truyền thống ?

Đánh giá thế nào các giá trị đương đại hoặc các giá trị tiếp biến đang ngày càng thâm nhập sâu vào cộng đồng dân cư ?

  1. Xu hướng áp đặt tư duy và hình thức cú pháp của diễn ngôn hiện đại vào văn nghệ dân gian

Một số hội viên không thực hiện phương pháp điều tra nghiên cứu văn hóa và yêu cầu việc sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian nên nguy cơ một số nhà nghiên cứu định hướng, giải thích cho người kể khi tham gia vào quá trình phỏng vấn hội thoại, hướng người diễn xướng, người kể chuyện đi theo quan niệm của nhà nghiên cứu. Có thể gặp cụ thể là xen ý kiến chủ quan của nhà nghiên cứu vào những lời giải thích, chú giải câu chuyện theo quan điểm hiện đại hóa, biến câu chuyện cổ tích, truyền thuyết vốn hồn nhiên mang thêm yếu tố luận đề, có lý, nhằm giải quyết việc văn bản hóa truyền thuyết trong những lần điền dã mà nhà nghiên cứu có dịp tiếp cận. Thậm chí, một số nhà sưu tầm, nghiên cứu đã phê phán, sửa đổi cách hành ngôn của nghệ nhân khi diễn xướng hoặc kể lại các truyền thuyết, ca dao, hò vè … Phần nhiều là sửa phát âm phương ngôn, thổ ngữ thành âm toàn dân, hoặc ngôn ngữ mà mình quen thuộc.

Ví dụ: người Quảng không phát âm sờ (sờ mó) mà phát âm rờ (rờ rẫm), thế nhưng trong kho tàng ca dao xưa nhà nghiên cứu phát âm sờ.  Nghe kỳ thanh bất kiến kỳ thơ/ Tiếng đồn em chồng bỏ, giơ cái lờ anh coi/ Giơ lờ em cũng muốn giở lờ/ Sợ anh dốt nát, anh rờ không ra. Thì sửa thành sờ không ra. Hoặc đan đát hay đan lát? Theo vùng miền, đan lát người miền Bắc và Bắc Trung bộ sử dụng nhiều, còn đan đát người miền Nam Trung bộ, Tây nguyên và miền Nam sử dụng nhiều. Nhưng khi khảo sát nghề thủ công truyền thống Nam Trung bộ có hội viên, hoặc nhà nghiên cứu viết đan lát. Hoặc trong ngôn ngữ nghề gốm Thanh Hà (Hội An) có từ phơ (là thời gian hong cho gốm ráo bớt nước, thường là hong trong bóng râm, nhà nghiên cứu cho rằng người kể không hiểu nên sửa thành phơi. (Phơi ra nắng gốm đất sẽ nứt, méo). Hội viên, nhà nghiên cứu theo các văn bản ghi chép của người ghi chép trước rồi từ đó đề xuất phương án văn bản hóa cho sáng rõ hơn. Đây là hành động tiêu biểu cho lối áp đặt tư duy và hình thức cú pháp của diễn ngôn hiện đại vào diễn ngôn văn hóa dân gian mà không tính đến cái riêng nghề nghiệp của văn hóa làng xã, vùng miền.

Hiện tượng này khá phổ biến, do nhà nghiên cứu không thực sự hiểu biết về phương ngữ trong khi sưu tầm, ghi chép, chú giải. Thực tế cho thấy nhiều khi sự tồn tại của một số yếu tố, từ ngữ trong tác phẩm mất hẳn nghĩa đích thực và tồn tại như một quy ước chứ không nhất thiết được cắt nghĩa rạch ròi theo quy ước của đời sống hoặc trong từ điển. Ở trường hợp này, nhà nghiên cứu cần làm rõ đây là từ mới sáng tạo, phương ngữ hay từ Việt cổ, cần thiết nên tham khảo thêm về các dị bản để làm rõ nội hàm và các cách hiểu trong các giai đoạn lịch sử. Cũng có khi, sai lầm này bắt nguồn từ văn bản có sẵn trước đó (hoặc do khả năng thẩm âm của người nghiên cứu) đã ghi sai cách phát âm trong vùng, bị lệch giữa nguyên âm và phụ âm. Đây cũng là một sai lầm khi nhà nghiên cứu chỉ dựa vào văn bản, đánh giá, phân tích tác phẩm văn hóa dân gian dưới góc nhìn của văn học viết.

Ngoài ra, còn có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất cập, ngộ nhận, sai lầm trong việc ghi chép, chú giải văn hóa văn nghệ dân gian. Trong các nguyên nhân ấy, chúng tôi muốn nhấn mạnh một nguyên nhân quan trọng: Nếu nhà nghiên cứu có cái nhìn phiến diện hoặc thiếu tính định hướng trong sưu tầm, nghiên cứu, sẽ dẫn đến việc lựa chọn phương pháp và thao tác sưu tầm, nghiên cứu không thích hợp và hệ quả là làm mất đi ý nghĩa cùng giá trị của các thành tố dân gian gắn với con người, làng xã, thôn bản trong vùng văn hóa dân gian mà nó ra đời mà các thế hệ cha ông họ đã dày công vun đắp, phát huy và bảo tồn.

 g cao năng lực sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian

Từ trước đến nay, quá trình nghiên cứu tác phẩm văn hóa dân gian trên văn bản và đời sống thực tế văn hóa văn nghệ dân gian ở nước ta có một số nhà sưu tầm, nghiên cứu còn giữ thói quen đi theo lối mòn là dựa vào những tư liệu đã in thành văn bản, thành sách, lấy văn bản trong sách làm đối tượng chính để khảo sát.

Những thành tựu đạt được theo hướng nghiên cứu này là không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, nó đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập, đặc biệt là trong thời đại mới đối với đối tượng cũ như văn nghệ dân gian. Bởi hiện nay quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới đã tác động làm cho các cộng đồng có sự chuyển đổi về năng lực hiểu biết tự nhiên, xã hội, con người. Theo đó, bất cập nhất có thể kể đến là sự vênh lệch nhất định giữa tác phẩm văn nghệ dân gian trên văn bản và đời sống bề bộn, đầy sức sống của thực tiễn đang ngày càng biến đổi diễn ra sôi động. Bởi lẽ, tác phẩm văn nghệ dân gian không phải là sản phẩm văn hóa đã hoàn tất, nếu chỉ dựa trên văn bản tức là dựa trên một lần kể. Đằng sau việc kể lại một câu chuyện, một phong tục, một làn điệu … còn họp tụ không ít các cơ chế chi phối đến sự lưu tồn của nó, đồng thời những nội dung trên còn bị chi phối không chỉ bởi tài năng người kể, nội dung kể, tâm thế và trình độ của người kể… mà còn là thời gian, địa điểm, thời đại, không gian kể …, tóm lại là bối cảnh kể chuyện. Chính vì vậy, để nghiên cứu văn nghệ dân gian vấn đề quan trọng là làm thế nào để xây dựng được không gian, bối cảnh và người nghiên cứu cần phải ghi chép – mô tả kỹ quá trình thể hiện một tác phẩm, một loại hình được diễn ra như thế nào, nội dung của nó được thể hiện ra sao, kết cấu và bố cục có phù hợp với văn hóa, tính cách của bộ tộc không, trình tự diễn ra theo các bước nào …  Trên cơ sở những dữ liệu thu được, nhà nghiên cứu tiến hành phân loại, so sánh đối chiếu để phân tích những sự kiện nào là yếu tố rập khuôn, lai tạp, chủ quan của người diễn xướng – người kể, so sánh với kết cấu tác phẩm đã được văn bản hoá để chỉ rõ kết cấu của một câu chuyện được diễn xướng đã thay đổi như thế nào so với câu chuyện đã được in trong văn bản và trở thành tư liệu, yếu tố nào bị lược bỏ, nguyên nhân, yếu tố nào được thêm vào và lí do. Đồng thời, việc tìm hiểu quan niệm, cách hiểu của chính người dân trong cộng đồng dân cư về tác phẩm cũng là một nội dung quan trọng mà người nghiên cứu cần thực hiện. Quá trình tham dự – hoà nhập, những trải nghiệm của người nghiên cứu vào những bối cảnh hoạt động diễn xướng sẽ là yếu tố cần thiết để chuyển tải những đặc điểm và giá trị của tác phẩm văn nghệ dân gian trong bối cảnh điền dã thành một văn bản với đặc điểm chân thực của một quá trình. Với hướng nghiên cứu này kết hợp với nghiên cứu văn bản sẽ mang lại cái nhìn bao quát, trọn vẹn về đời sống của tác phẩm, sẽ có thể tiếp cận được những thay đổi cả về chất lẫn lượng của những tác phẩm văn nghệ dân gian đang sống trong đời sống so với những tác phẩm đã được in thành văn bản trên các kệ sách. Từ đó trả lại những giá trị vốn có cho tác phẩm nói riêng và những giá trị văn hóa dân gian nói chung trong suốt tiến trình lịch sử của mỗi tộc người.

  1. Phương pháp điền dã – tiếp cận

Người sưu tầm, nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian khi đặt vấn đề nghiên cứu một đề tài nào đó, thường họ vận dụng nhiều phương pháp cho cùng một vấn đề. Mặt khác, họ phối hợp phương pháp liên ngành để xử lý một sự kiện nhằm làm sáng rõ theo ý định của nhà nghiên cứu. “Nhiên cứu văn hóa là tập hợp các phương pháp thao tác và biện pháp được sử dụng để phân tích văn hóa và, ở mức độ nhất định tạo nên đối tượng của nghiên cứu văn hóa”.

 

Có nhiều phương pháp để tiếp cận nghiên cứu văn hóa nói chung trên phương diện liên ngành đối với văn hóa nói chung và văn nghệ dân gian nói riêng: phân tích, so sánh đối chiếu các cấu trúc, chức năng, mô hình, ngôn ngữ, dân tộc học, cấu trúc luận, chức năng luận, nhân học hành động, nhân học nghệ thuật, nhân học văn hóa,…các nhà nghiên cứu đã biết và đã vận dụng thành thạo vào quá trình nghiên cứu. Ở đây tôi chỉ muốn đề xuất dù thực hiện phương pháp liên ngành của khoa học xã hội nhân văn, nhưng đặc biệt chú ý theo phương thức cùng ăn – cùng ở – cùng làm như người trong cuộc thì mới tạo nên những công trình sưu tầm nghiên cứu đậm tính bản địa tộc người, khu vực, vùng miền.

 

Trong bối cảnh các cộng đồng dân cư đang có sự chuyển đổi nhanh chóng trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế, tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và xây dựng nông thôn mới thì việc nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian nên thực hiện phương pháp điền dã – tham dự –  quan sát – ghi chép. Điều này cho phép nhà nghiên cứu trở thành “người nội bộ” trong lý giải các vấn đề thuộc về văn hóa văn nghệ dân gian.

 

Bằng mọi phương tiện có thể và bằng sự tâm huyết của nhà nghiên cứu hãy tham gia vào mọi hoạt động của người dân, lắng nghe lời ăn tiếng nói của họ, hành động của họ, ứng xử của họ với các thành viên trong gia đình và những người láng giềng để thẩm định thái độ của họ, cảm xúc và tâm tính họ,…từ đó thông qua trải nghiệm với con mắt của nhà sưu tầm – nghiên cứu đối chiếu với những trải nghiệm có được trong thời gian điền dã để lý giải những quan sát, ghi chép lại như thế nào cho trung thực, khách quan (tránh tư biện và nghiên cứu kiểu salon) và ý nghĩa của chuỗi các hoạt động của họ trong hoạt động sinh tồn là thế nào.

7/2026 – VVH

 

 

Tài liệu tham khảo

– Tạp chí Văn hóa dân gian Đà Nẵng (2020), NXB Đà Nẵng.

– Bài viết của Nguyễn Đăng Hựu (2020), Điền dã trong một cộng đồng hiện đại hóa: chuyển đổi cách tiếp cận trong nghiên cứu văn hóa dân gian đương đại, in trong Văn hóa dân gian Đà Nẵng, NXB Đà Nẵng.

– Bài viết của Nguyễn Thành Khánh (2020), Nâng cao chất lượng sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian trong xã hội đương đại, in trong Văn hóa dân gian Đà Nẵng, NXB Đà Nẵng.

– Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

– Cyril E. Black, The Dinamics of Modernization, Harper & Row, New York, 1966.

– Đinh Hồng Hải, Di sản văn hóa trong thang bậc giá trị toàn cầu qua góc nhìn của Michael Herzfeld, Tạp chí Khoa học xã hội & Nhân văn, Tập 6, số 4 (2000) 439- 499.

– TS. Vũ Minh Chi (2004), Nhân học văn hóa – con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên, NXB Chính trị Quốc gia.

– Thomas L. Friedman (2009), Chiếc Lexus & cây ô liu, NXB Khoa học xã hội.

– Tham khảo ý kiến hội viên trong Chi hội Văn nghệ dân gian Đà Nẵng.