NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC GỖ CƠ TU – MỘT GÓC NHÌN

7

        NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC GỖ CƠ TU – MỘT GÓC NHÌN

        Nghệ thuật tạo hình người Cơ Tu phát triển đều khắp trong cách nhìn vào không gian sinh tồn của họ từ rừng núi, khe suối, sông ngòi đến những con thú trên cạn, động vật dưới nước như cá dưới lòng sông suối cũng được nghệ thuật điêu khắc gỗ Cơ Tu phản ảnh. Đặc biệt là hình tượng về con người vừa con người hiện thực nhưng quan trọng hơn vẫn là con người dưới cái nhìn tâm linh tôn giáo của họ. Bên cạnh đó các biểu tượng là biểu hiện về mặt nghệ thuật cuả tộc người, biểu tượng mà người ta thường thấy và có sức lan tỏa xã hội là tượng về các vị yang, các vị ma cả ma hiền (tại nhà mồ Cơ Tu) và ma dữ (đặt phía ngoài làng).  Ngay cả hình ảnh biểu trưng về một gương mặt ma rừng là thế nào được các nghệ nhân người Cơ Tu tưởng tượng và thể hiện ra thành những tác phẩm điêu khắc đa dạng, tả thực thành hình ba chiều trong không gian. Toàn bộ hình khối của bức tượng được thể hiện bằng ngôn ngữ mảng, khối. 

    Năm 1938, Le Pichon, một người Pháp đến Việt Nam trong vai trò là người lính viễn chinh và còn là nhà nghiên cứu văn hóa tộc người Cơ Tu tại miền Trung, đã viết trong Les chasseurs de sang, in trong tạp chí Những người bạn cố đô Huế (Bulletin des Amis du Vieux Hué) đã nhận xét về nghệ thuật điêu khắc gỗ Cơ Tu vùng Quảng Nam: “Thông thường người ta bắt gặp ở bên cạnh một con đường mòn, trong rừng sâu hoặc ở giữa một vài cái rẫy, một tượng (tên m – nui) được đặt ở đó để hăm dọa các abui (a bhuy) hay là thần ác… Những tác phẩm chính của người Ka Tu (CơTu) là nhà mồ (pĩn) (ping) và quan tài (tăram). Chúng được trang hoàng bằng những hình vẽ và những điêu khắc cách điệu cực kỳ đa dạng; mỗi một tác phẩm có cá tính riêng của nó và kiểu mẫu không bao giờ trùng hợp…Nghệ thuật Ka Tu (Cơ Tu) này chỉ có thể xuất xứ từ một nền văn minh tương đối tiến bộ mà những gì còn lại sẽ biến mất, nếu chúng ta không can thiệp vào để cứu lấy nó”. Đây chính là những biểu hiện nghệ thuật của điêu khắc gỗ Cơ Tu. Quan sát đối tượng các tượng gỗ, có thể nhìn nhận các đường nét, hoa văn, những đường vẽ kỷ hà trên tấm rơ măng, trên cây x’nur, hay những đường nét kỹ xảo, tinh tế trên chim tr’iing (bồ cành) cho hay rằng đấy là sự biểu biện về mặt nghệ thuật, phản ảnh nền văn hóa tộc người gắn với tự nhiên, xã hội – nơi sản sinh ra nền văn hóa đó – Ở đây, tộc người Cơ Tu cho ra đời nền văn hóa nương rẫy – sắn bắt và hái lượm.

Đấy là đường nét, hóa văn, hình nổi không được tinh xảo, dịu dàng mềm mại nhưng có sức biểu đạt mạnh mẽ. Trên mỗi tác phẩm điêu khắc gỗ Cơ Tu, nhìn tổng thể một cấu trúc khắc gỗ thể hiện mối quan hệ nhị nguyên hỗ tương nhau trong mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Thông qua biểu tượng điêu khắc gỗ, các nhà nghiên cứu có thể tìm thấy sự ẩn dụ các thành tố văn hóa Cơ Tu, đặc biệt quan niệm vũ trụ quan, nhân sinh quan của họ trên rừng núi Trường Sơn. Và đây là sự thể hiện ý nghĩa chiếm đa số của điêu khắc gỗ Cơ Tu. Ý nghĩa của các tượng gỗ được chấp nhận và được lan tỏa trong cộng đồng, đã đi vào chiều kích xã hội mà mọi thành viên trong cộng đồng không chỉ có biểu hiện về yếu tố thẩm mỹ mà còn có thể chấp nhận xem đấy là nét đặc trưng riêng có của tộc người mình, cần được bảo vệ và duy trì.

    Điêu khắc gỗ của người Cơ Tu không có lý luận về điêu khắc điều chỉnh và soi sáng. Họ là người dân thường trong một làng hay một cộng đồng, không được tìm hiểu về bố cục, không gian, đường nét,…của điêu khắc gỗ là thế nào. Vậy mà những hình khối điêu khắc bằng gỗ của họ biểu đạt được nguyện vọng của họ trong cuộc sống. Đấy chính là sự sáng tạo thành các đối tượng biểu hiện ý nghĩa mà người Cơ Tu gán cho chúng. Bởi vì cho thấy về mặt ý nghĩa biểu hiện và sự lan tỏa xã hội đều được cả cộng đồng công nhận. Họ xem đó là sự biểu hiện và ghi đậm dấu ấn văn hóa tộc người từ núi rừng, sông suối, cây cỏ, các loài động vật có ích và có hại,… tất cả đều được họ sáng tạo nên bên cạnh biểu tượng về nhân sinh quan, vũ trụ quan mà đặc trưng là biểu tượng các vị thần trong đời sống văn hóa tâm linh tôn giáo của họ. Đây chính là những thành tố góp phần tạo nên đặc trưng riêng, hình thành bản sắc riêng có của người Cơ Tu.

  1. Chim tr’iing 

        Chim tr’iing trước hết trong quan niệm người Cơ Tu là biểu trưng cho sự tự do. Chim tr’iing sống trên vùng núi cao, là loài chim quý hiếm (không được săn bắn), bởi chim đẹp và mang ý nghĩa của sự tự do như người Cơ Tu vậy. Nghệ nhân Cơ Tu quan sát bằng mắt và biểu hiện bằng thao tác đục đẽo trên thân gỗ, để có biểu tượng một chim tr’iing bay nhảy trong không gian mà chúng tồn tại. Họ không có lý luận về đường nét, hình khối,… mà chỉ là sự mô phỏng hiện thực để sáng tạo ra một con chim theo sự tưởng tượng của mình, phục vụ nhu cầu biểu đạt về cái đẹp của họ mà chất liệu lấy trong tự nhiên mà có.

      Và vì bay nhảy được nên là biểu trưng cho các mối liên lạc giữa Trời – Đất – Người. Người Cơ Tu thông qua chim tr’iing (bồ cành) như là sứ giả làm gạch nối giữa Người – Trời – Đất. Trong truyện cổ người Kinh không thiếu cánh chim, bởi chim nhẹ nhàng bay được. Truyện Tiên Sa tại bãi Tiên Sa ở bán đảo Sơn Chà thành phố Đà Nẵng cũng là motif cánh chim mà các nàng tiên mượn cánh để bay xuống trần gian. Chim tr’iing của người Cơ Tu cũng vậy, cũng thể hiện bay lượn, làm nổi bật tính nhẹ nhàng, bỏ lại bao nỗi nặng nhọc, bề bộn ở trần gian. Như thế, chim tr’iing là hình ảnh linh hồn con người thoát khỏi thể xác. Điều đó cho hay rằng chim tr’iing vừa là sứ giả của người Cơ Tu nhưng đồng thời cũng biểu trưng cho sự sinh sôi, tự do, nhẹ nhàng bay lượn của các linh hồn về với Yang – nơi cõi Trời.

  1. Đầu gà trống – thân rắn (Thần nước – rắn thần) 

      Người Cơ trong nghệ thuật tạo hình có mảng điêu khắc gỗ thể hiện tín ngưỡng đa thần, sự phối hợp các thần, ta tìm thấy biểu trưng con gà trống màu trắng. Gà trống được xem là biểu tượng ám chỉ mặt trời, bởi tiếng gáy của gà trống báo hiệu trời sáng, mặt trời mọc. Gà gáy tan là trời sáng và mặt trời bắt đầu xuất hiện, thế nên gà trống thường được gắn với mặt trời là thế. Cư dân khu vực Đông Nam Á, coi gà trống là điều tốt đẹp, thể hiện ở những đức tính được cho là cao cả, cho nên gà được làm vật linh hiến cúng thần linh. Đó là các đức tính mà gà có, trước hết là biểu trưng của “kẻ đầu đàn” bởi vì mào của gà trống làm cho nó ra vẻ đầu đàn, mang yếu tố dẫn dắt; đức của sức mạnh, đức của các chiến binh vì gà trống nào có cựa được biểu trưng cho sức chiến đấu và đó chính là sức nạnh của nó; tính dũng cảm của gà trống, biểu hiện trong những lần chiến đấu giữa hai gà trống, dễ nhìn thấy ở những cư dân có tục chọi gà; gà trống còn có tính tốt bụng, bởi đứng trước các gà mái, gà trống luôn gọi gà mái đến và đưa thức ăn cho mái; đức của sự tin cậy, bởi gà trống đập cánh gáy vang là báo hiệu tan canh, mặt trời mọc.       

      Con rắn được hai học giả người Pháp Jean Chevalier và Alain Gheerbrant trong Dictionnaire des symboles, cho rằng: rắn là con vật có xương sống, hiện thân cho tâm hồn hạ đẳng, cho cái tâm hồn tối, cho cái không bình thường, khó hiểu, huyền bí. Trong nghệ thuật điêu khắc của người Cơ Tu, gần đây tại huyện Tây Giang, ta thấy họ điêu khắc trên gỗ với hình tượng thân rắn – đầu gà.  (Do sự đa nghĩa của biểu tượng nên có nơi người ta gọi là Thần rắn, cũng có người gọi Thần nước).

       Điều này liên quan đến hình ảnh tái hiện trong giấc mơ của chủ làng hay vị già làng, sau đó thường tìm đến giấc mơ để giải cấu trúc giấc mơ, phân tích các hình ảnh tái hiện tìm các hình ảnh tốt, có tính tích cực. Thân rắn – đầu gà trống là biểu hiện quan niệm thế nào trong nghệ thuật điêu khắc gỗ Cơ Tu? Có ý kiến cho rằng “Hai con vật này đánh dấu một giai đoạn của tiến hóa nội tâm: sự hòa nhập những sức mạnh bản năng ở cấp độ nhân cách, nơi mà tinh thần và vật chất cố gắng thăng bằng hoá để tạo nên một thể thống nhất hài hòa.” Điều mà người Cơ Tu muốn trong môi trường tự nhiên khắt nghiệt miền núi rừng Trường Sơn sự hài hòa, cân bằng giữa thiên nhiên với con người trong cuộc sống của họ. Mặt khác cũng hiểu rằng sự hóa thân của dàng tối cao, rằng muốn điều chỉnh các hành vi không tốt của con người. Những lúc như thế thần rắn xuất hiện bảo ban, răn đe con người nếu muốn thực hiện điều gì xấu thì không nên. Hình tượng thần rắn – đầu gà cuộn vòng quanh thân cây gỗ được cách điệu là quấn lấy cái gốc của trục thế gian. Thần sẽ bảo vệ con người tránh những điều sai trái. Con gà là biểu trưng sự thăng hoa, đẩy lùi đêm tối của sự mục rã, mang lại ánh sáng ban ngày rạng rỡ, thu nạp năng lượng và tỏa ra cho cuộc sống khởi sinh. Đầu gà đứng trên thân rắn, được thân rắn biểu trưng cho sức mạnh nâng phần đầu lên cao, vươn tới sự thăng hoa, che dấu sự hung hăng và biểu lộ sức mạnh của thần. Thế nên, ta còn gặp con rắn độc (mai gầm) với hai màu đen trắng (là quan hệ nhị nguyên) đối lập giữa cái ác và cái thiện cùng tồn tại trong một sự vật, được khắc trổ tại gươl. Đấy là sức mạnh của rắn được phát lộ của vị thần bóng tối mà con rắn là hình tượng phổ biến thường gặp tại gươl Cơ Tu. Điều này không thể tìm thấy trong lịch sử, chắc chắn không thể tồn tại có thực theo cách đầu gà – thân rắn. Điều cần nhận ra trong tính đa nghĩa của biểu tượng là gì? Tại sao có thể tồn tại như vậy? Nguyên nhân xuất hiện của hình tượng thần rắn cần được giải cấu trúc tư duy của người Cơ Tu xưa là thế nào mà đến nay ta vẫn chưa hiểu biết thỏa đáng những hình tượng thân rắn – đầu gà trống không có trong thực tiễn, lại trở thành cái có thể, thể hiện trong tín ngưỡng của người Cơ Tu.

         Đó phải chăng là tư duy về các vị thần của thời nguyên thủy còn sót lại. Sự kết hợp việc thuần dưỡng gà rừng làm thực phẩm thường đối phó với các loài rắn và thú hoang dã phá hoại, từ đó xuất hiện tư duy gắn rắn với đầu gà trống như là biểu hiện của sự thăng hoa nhưng đồng thời cũng thể hiện sự hũy diệt không lường trước được của loài rắn độc. Theo thời gian, gắn với tiến trình lịch sử, hình tượng rắn thần – đầu gà xuất hiện với sự sáng tạo quấn vòng quanh trục thế gian, nghĩa là biểu đạt con người luôn chịu sự tác động của hai mặt đối lập: cái thiện – cái ác luôn song hành tồn tại. Gắn liền với quan niệm thiện – ác là các hành vi dựa vào ma thuật nhằm biểu đạt ý muốn của thần Rừng/ mẹ Rừng hay dàng tối cao – dàng Trời – thể hiện.

         Tại Tây Giang, tìm thấy nhiều tượng gỗ, thể hiện năng lực mô phỏng tự nhiên thông qua nghệ thuật điêu khắc gỗ, cho biết tư duy hình tượng của các nghệ nhân tại đây thể hiện cảm xúc về cuộc đời, về sự sống và về gắn kết với thần linh. Nơi gươl, tại điểm tiếp giáp xà ngang với xà dọc, các chủ làng Cơ Tu sắp đặt các tượng ché có chim cú đậu trên nắp ché, và tượng cái ché không nắp đậy, nổi lên là cây cột (như là cột thông thiên – cột x’nur) là hình tượng con rắn quấn quanh thân cột với đầu gà. Đồng thời cũng tìm thấy nhiều tượng gỗ có khuôn mặt dữ tợn được bố trí trước mặt tiền của gươl, như để trấn áp các loại ma xấu hay các loại quỷ tràn vào gươl phá hại. Gươl tại huyện Nam Giang lại có thêm tượng gỗ mình người đầu chim. Là chim malai (?) được cho là ăn thịt người mà trong Cơ Tu gọi là loài quỷ ajêh, quỷ đhăm mariêng có sức mạnh siêu nhiên, phép thuật khôn lường, luôn hung dữ và phá hại. Những tượng gỗ như thế đặt tại gươl tạo cho không gian thiêng của gươl mang yếu tố huyền bí và thể hiện tính ma thuật của không gian thờ cúng trong gươl.

           3.Tượng người, ma rừng

     Trên quan tài và chung quanh cổ quan, người thân đặt nhiều tượng gỗ, mỗi tượng biểu đạt nhiều cảm xúc khác nhau. Có thể những tượng gỗ thể hiện đức tính mà sinh thời người quá cố thường có thói quen thể hiện trong cuộc sống. Quan tài mới được đưa vào nhà mồ, người thân dùng cái khay (kẽ vẽ nhiều họa tiết hoa văn màu sắc rực rỡ), đặt trên quan tài. Tại bốn góc khay đặt bốn bức tượng gỗ. Trong tín ngưỡng, đây được cho là thể hiện lòng biết ơn của người thân đối với người đã mất. 

      Trong nhà mồ Cơ Tu, thường đặt một khay gỗ mà bốn góc thiết trí bốn biểu tượng giống nhau, nhìn ở góc độ nào đó là chiếc sừng trâu, ở một góc nhìn khác là hai vầng trăng khuyết giao nhau. Người Cơ Tu cổ xưa gửi vào đó điều gì? Không chỉ là người Cơ Tu mà các tộc người thời nguyên thủy gửi vào đấy ý nghĩa được biểu hiện qua chiếc sừng trâu được khắc chạm trên một tấm gỗ đối xứng nhau là đầu trâu với hai sừng. Thuở xưa nhiều tộc người nguyên thủy gọi đó là “đầu trâu máng nước”. Sừng trâu biểu trưng cho phái mạnh, sự mạnh mẽ, biểu hiện ý nghĩa vươn lên; đồng thời còn hiểu là biểu trưng cho tính “phồn thực”. Sừng trâu cong như vầng trăng khuyết để phân biệt đực – cái, là âm – dương, là nhị nguyên trong một sự vật và hiện tượng. Nhiều tộc người thời nguyên thủy coi cắp sừng là biểu hiện của uy quyền, theo đó, có tù trưởng bộ tộc thường sử dụng cặp sừng để tỏ rõ uy quyền của mình. Thời nay ta còn gặp những cặp sừng màu vàng, màu đỏ, màu đen xuất hiện trên các sân bóng đá ở Châu Âu. Họ cổ động cho đội bóng của họ với ý chí vươn lên mạnh mẽ – mạnh mẽ và chiến thắng. Còn máng nước thời nguyên thủy được xem là biểu trưng cho giống cái, cho phái nữ nên là âm tính. Điều này cho thấy có tộc người ở Tây Nguyên khắc trổ hình tượng âm – dương thông qua hai biểu tượng một đàn ông và một đàn bà với động tác “phồn thực”, dùng chiếc “sừng trâu” và “máng nước” trong thế lưỡng hợp giữa âm và dương. Di sản này còn tiếp nối đến thời đương đại khi con người còn dùng “úp máng” để chỉ về cái giống cái – nữ tính.

    Nước là vật thế yếu mềm được tìm thấy người Cơ Tu khắc chạm phần dưới của x’nur hay phần gốc trên biểu tượng cây rung rang. Nước là vật thể không định hình, chỉ sự yếu mềm, nhưng rất mạnh mẽ, bởi nước là vật thể để tồn tại, để khai sinh vạn vật và nước cũng để sinh tồn. Người ta thường nhìn vòng đời người phụ nữ có trăng đầy, trăng tròn, trăng khuyết, trăng mười sáu, trăng hai mươi, trăng non,…Như thế trăng là nữ tính.

    Thế nên có thể nhận ra các sản phẩm điêu khắc như mặt nạ (hiền, dữ), tượng (ma rừng, ma hiền, quỹ ajêh) của người Cơ Tu đã gắn với đặc trưng nền văn hóa sản sinh ra chúng. Đối với người Cơ Tu cổ xưa là văn văn hóa núi rừng mà phương thức tồn tại của họ là phát rẫy ươm lúa, săn bắt và hái lượm.

    Còn nếu nhìn từ một góc nhìn khác bốn góc của khay (như máng nước) lại thấy hai vầng trăng khuyết tiếp giao nhau. Biểu tượng mặt trăng trong tâm thức người nguyên thủy được ví như và đồng nhất là cánh sừng trâu. Và vì thế vầng trăng khuyết chính là cái sừng trâu – hàm nghĩa là sự mạnh mẽ không chỉ là dương mà cho cả của âm. Trăng còn ví như vòng đời người theo chu kỳ đến sự trưởng thành.

  1. Sự lan tỏa của nghệ thuật điêu khắc gỗ Cơ Tu trong cộng đồng

      Điêu khắc gỗ Cơ Tu tôi nghĩ chia thành năm nhóm theo chức năng của tượng:

    1- Nhóm các tượng gỗ đặt tại nhà mồ: như nhóm các tượng người trông coi mộ, gồm nhóm đứng và tượng ngồi nhìn về rất xa để giữ mộ. Nhóm này thường thể hiện tôn giáo tín ngưỡng tâm linh của tộc người. Các tượng nằm trong nhóm này thường không đặt tại gươl mà đặt tại nhà mồ Cơ Tu. Đây là nhóm người Cơ Tu gán cho chức năng coi ngó, giữ nhà mồ và đồng thời quan trọng hơn là giúp hồn ma của người thân về với cõi yang mà không làm những điều tiêu cực với người thân, người làng.

      2- Nhóm các tượng án giữ các loại ma dữ: như nhóm các tượng đặt bên đường vào làng, tại cổng làng để ngăn giữ, không cho các loại ma dữ được vào làng để gây tổn thất nhân mạng, hoặc làm cho mùa màng thất bát, đói kém, bệnh tật xảy ra.

      3- Nhóm các loại mặt nạ thể hiện các loại quỷ ajêh, đhăm mariêng,… chức năng của các loại này thường ám hại người trong cộng đồng làng. Loại hình điêu khác các tượng ma quỷ thường được người Cơ Tu gán cho chức năng cai quản gươl làng, theo đó quan niệm thẩm mỹ về loại tượng gỗ, mặt nạ này cũng khác, ít thân thiện.

      4- Nhóm các loại hình có chức năng thể hiện vai trò hỗ trợ cuộc sống của tộc người như: biểu tượng cây rau dớn, các loại hoa như a tút, bơ lơm, một số loài vật,…

      5- Nhóm các loại động vật như: các loại bò sát (thằn lắn, rắn rết,…), các loại động vật hai chân, bốn chân, như: gà, chim các loại, trâu, dê, nai, con tê tê, con voi,… họ gán cho chức năng phục vụ và duy trì cuộc sống của tộc người. Đây là loại hình điêu khắc gần gũi với con người, giúp người nâng cao hy vọng để duy trì cuộc sống, thường là gần gũi với con người.

    Mỗi nhóm loại hình điêu khắc gỗ thường tạo ra những thay đổi thẩm mỹ và cả trong nhận thức của tộc người. Tùy vào mỗi loại hình và mỗi nhóm mà có sự lan tỏa vào chiều kích xã hội. Nhưng phần lớn các loại hình hỗ trợ, phản ảnh cuộc sống đa chiều của người Cơ Tu thường nảy sinh nhận thức và công nhận yếu tố thẩm mỹ tích

cực trọng cộng đồng tộc người. Theo đó, con người có thể nhận thức cái đẹp, nét thẩm mỹ của

các loại hình trên qua nhãn quan thể hiện bằng nhìn ngắm. Sự lan tỏa nghệ thuật vào chiều kích xã hội đặt cá nhân trong cộng đồng tộc người vào

góc nhìn mới, đôi khi vượt qua lằn ranh của nghệ thuật cổ xưa để hướng đến cách nhìn ngắm của người thời nay hơn là đánh giá thẩm mỹ như thời xưa tổ tiên họ đã từng đánh giá và công nhận. Thời nay, nghệ thuật điêu khắc gỗ Cơ Tu đã dần dịch chuyển đến phản ảnh đời sống người Cơ Tu trên vùng rừng núi. Các nghệ nhân Cơ Tu lấy cảm hứng từ những câu chuyện kể về yang, như tượng khắc gỗ Mẹ Rừng, cây rau dớn, múa tâng tung da dăh…, đã được các nghệ nhân sáng tạo nên biểu tượng phản ảnh văn hóa tộc người gắn với mỗi loại hình nghệ thuật. Và hiện tại chỉ dựng lại việc hướng thẩm mỹ của mỗi làng vào việc sáng tạo nên các tượng gỗ đặc trưng khu vực làng bản mà chưa có sự kết nối, giao thoa tiếp biến nhau thông qua các hình thức triển lãm, hay mua bán, trao đổi để nhân thêm chiều kích xã hội trong việc đưa nghệ thuật điêu khắc gỗ Cơ Tu lên một tầm cao hơn nữa./.

                                                                                                    VVH

Ảnh đại diện: VVH, 2017